Đông và Tây- khác biệt về văn hóa và tư duy (I)
Sau hàng nghìn năm lịch sử, bằng bàn tay và khối óc, con người
đã xây dựng nên điều hôm nay chúng ta vẫn gọi là văn hóa. Và văn hóa đã
trở thành bệ đỡ, là bệ phóng đưa con người đi từ dã man tới văn minh.
Tuy nhiên, do văn hóa là sự lựa chọn của
mỗi cộng đồng người trong các điều kiện địa lý - kinh tế riêng nên ngay
từ đầu, dù cùng một mẫu số chung, nhưng mỗi cộng đồng lại có các lựa
chọn văn hóa khác nhau, với kiểu tư duy khác nhau khi tiếp cận thế giới,
đẩy tới các kiểu quan niệm, các phương thức sinh tồn, các phong cách
sống, các tập quán và thói quen... khác nhau.
Vì thế, đến thời hiện đại, để tổng kết
một (các) lĩnh vực hoạt động của một dân tộc, không thể không xem xét
một (các) lĩnh vực ấy theo chiều lịch đại, tức là phải xem xét trong
tính lịch sử.
Từ khác nhau trong văn hóa...
Hàng nghìn năm trước, khi cư dân Trung
Hoa, Ấn Độ... bắt đầu phác họa các đường nét đầu tiên của văn hóa dân
tộc mình, hẳn họ không ý thức được tầm vóc vĩ đại của những gì do họ làm
ra.
Sự kính trọng mà nhân loại dành cho các
thành tựu này, hành trình mà giới nghiên cứu phương Tây đi về phương
Đông để cố gắng khám phá những điều “thần bí phương Đông” đã cho chúng
ta thấy điều đó.
Tất nhiên, phương Đông không chỉ là
Trung Hoa và Ấn Độ, nhưng với những gì mà người Trung Hoa, người Ấn Độ
đã làm được trong quá khứ khiến cho nhiều tác giả khi nhắc tới văn hóa -
văn mình phương Đông thường coi hai nền văn hóa - văn mình này là tiêu
biểu.
Vì thế trong bài viết này, khi đề cập
tới phương Đông cũng không nằm ngoài quan niệm về sự “thường coi” đó, và
hoàn toàn không có ý định coi phương Đông chỉ là Trung Hoa, Ấn Độ.
Tương tự như vậy, để không rơi vào cuộc
tranh luận chưa có hồi kết về một nguồn gốc một số thành tựu văn hóa -
văn minh của người Trung Hoa là có nguồn gốc Trung Hoa hay phương Nam,
bài viết này chỉ đề cập tới một số quan niệm vũ trụ, nhân sinh của người
Việt (như quan hệ âm - dương chẳng hạn) có thể thực chứng qua hàng
nghìn năm lịch sử và ít nhiều vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống hôm nay.
Với ý nghĩa đó, khi đề cập tới văn hóa -
văn minh cổ truyền ở Việt Nam, thường khi có thể nhận diện qua sự đan
xen phức tạp giữa các giá trị văn hóa - văn minh bản địa với nhiều giá
trị văn hóa - văn tiếp nhận từ Trung Hoa và Ấn Độ...
Sinh tồn ở khu vực gần gũi với các nền
văn minh lớn ở phương Đông, từ hàng ngàn năm trước, nền văn hóa sơ khởi
của người Việt đã chịu ảnh hưởng và phần nào có thể nói, đã tiếp thu
nhiều thành tựu của văn minh Trung Hoa, Ấn Độ.
Các đoàn thương nhân, các nhà tu
hành,... và các đạo quân xâm lược dẫu có để lại hình ảnh không đẹp đẽ
trong quá khứ, thì họ cũng góp phần đưa tới một hiện tượng độc đáo là
giúp cho cơ tầng văn hóa Việt bản địa phối kết với vô số thành tựu văn
hóa bên ngoài, từ đó hình thành nên một văn hóa Việt mới, với một hệ
thống khá ổn định về bản sắc.
Tạo lập cộng đồng trên vùng khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa, nơi hàng ngàn năm trước sử sách Trung Hoa
từng miêu tả là “nơi con chim không cất cánh bay lên được” (Hậu Hán
thư), các thế hệ người Việt đã nối tiếp nhau để dựng nước và giữ nước.
Và từ điều kiện địa lý, người Việt đã
lựa chọn canh tác nông nghiệp lúa nước làm phương thức sinh tồn chủ yếu
và vì thế, nông nghiệp lúa nước trở thành quy chiếu quy định nét riêng
của văn hóa Việt về vật chất và tinh thần.
Với thế giới quan coi con người và thế
giới đều cấu trúc theo mô hình âm - dương mang tính phổ quát, người Việt
sớm tìm một lối sống hòa đồng với tự nhiên, tự coi mình là bộ phận của
tự nhiên.
Nguyên tắc xem xét thế giới với tính
cách một thế giới hoàn chỉnh trong sự kết hợp hài hòa âm- dương, được
xác lập bởi các thành tố thiên - địa - nhân (tam tài giả thiên địa nhân)
đã quán xuyến mọi quan hệ, không chỉ trong cách thức ứng xử với tự
nhiên mà cả trong quan hệ, cách thức ứng xử giữa con người với con
người, và cách ăn, mặc, ở... đến quan niệm về trạng thái tồn tại của mọi
sự vật - hiện tượng.
Sự ra đời sớm của tổ chức cộng đồng, yêu
cầu cố kết trong canh tác nông nghiệp lúa nước, cố kết chống lại các
cuộc xâm lăng từ bên ngoài,... sớm làm hình thành nên ý thức cộng đồng -
yếu tố cực kỳ quan trọng trong trường tồn lịch sử của người Việt.
Cộng đồng và cá thể, cá thể và cộng
đồng, cùng lo nỗi lo, cùng chia sẻ niềm vui. Sống giữa “biển làng xã”,
người Việt thấy vững tâm khi sống giữa cộng đồng, thấy lẻ loi khi vì lý
do nào đó phải xa rời những mối quan hệ huyết thống, quan hệ láng
giềng...
“Sống bằng mồ mả không ai sống bằng cả
bát cơm”, “một giọt máu đào hơn một ao nước lã”, “bán anh em xa mua láng
giềng gần”,... những lời răn dạy trong xử lý quan hệ huyết thống, quan
hệ cộng đồng thoạt nghe như phủ nhận lẫn nhau, nhưng xét đến cùng, chính
là sự đề cao, khẳng định vai trò quan trọng của các quan hệ.
Nhưng có lẽ, vấn đề quan thiết với cư
dân nông nghiệp lúa nước là vòng quay không đổi của chu kỳ canh tác: cày
bừa - gieo mạ - cấy - làm cỏ bón phân - gặt mùa, rồi tiếp tục cày bừa -
gieo mạ,... đã tạo nên một tiết tấu khá ổn định của cuộc sống qua các
thế hệ.
Xuân - hạ - thu - đông, tết đến xuân về,
vụ chiêm - vụ mùa, mọi thứ hầu như không biến động, không thể đi gặt
vào tháng giêng, cũng không thể đón tết vào ngày Đông chí! Nghĩa là con
người sống và làm việc theo một chu kỳ đã được xác lập, chỉ có thể nương
theo chứ không thể làm biến đổi.
Điều kiện địa lý - kinh tế riêng, sự lặp
lại dường như là bất đổi của vạn vật,… dường như không làm nảy sinh nhu
cầu phân tích sự vật hiện tượng xung quanh, không làm nảy sinh nhu cầu
tổng kết, khái quát lý luận; các kinh nghiệm đã rút đúc, các vốn liếng
kinh nghiệm đã tích lũy cũng đủ để phục vụ nhu cầu sinh tồn thiết yếu.
Do vậy, mọi sáng tạo vật chất - tinh
thần đều nhằm hoàn chỉnh “cái đã có” chứ không nhằm tìm tới “cái phải
có”. Nói cách khác, cha ông chọn một lối sống dựa trên nền tảng một
“triết lý quân bình”, giữ hài hòa mọi quan hệ.
Không ngẫu nhiên, cách đây hơn mười thế
kỷ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam, đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng,
thậm chí trong nhiều trường hợp còn trở thành chuẩn mực có tính nguyên
tắc chi phối một số tiêu chí văn hóa bản địa khác.
Kính nhi viễn chi, ôn cố tri tân, tập kỳ
đại thành,... các quan niệm của Nho giáo đã thống trị trong tâm thức
nhiều thế hệ, chúng không góp phần thúc đẩy tinh thần khám phá, mà chủ
yếu yêu cầu đi tìm sự thích nghi.
Cũng như các dân tộc ở phương Đông,
trong quá khứ, người Việt tỏ ra thiếu khát vọng tìm kiếm cái mới, không
thích lập kỷ lục... Họ không có hứng thú lặn xuống biển sâu, bay vào vũ
trụ, không tự hỏi “hai vạn dặm dưới đáy biển” có gì.
Họ không có hành động để chứng tỏ con
người bình đẳng với tự nhiên, bởi chưa bao giờ trong ý thức xuất hiện ý
niệm về điều đó. Họ dễ bằng lòng với “cái đã có”, họ thường đánh giá các
quan hệ, đánh giá sự vật - hiện tượng theo những tiêu chí do thế hệ
trước trao truyền lại.
Và tình trạng này đã tạo nên một “kiểu
sống” không chứa đựng thói quen giải thích thế giới và được phản ánh khá
rõ qua một giai thoại được Liệt Tử kể rằng: Khổng Tử gặp hai đứa trẻ
cãi nhau không biết buổi sáng mặt trời ở gần hơn hay buổi trưa ở gần
hơn.
Một đứa bảo buổi sáng mặt trời gần hơn
vì to hơn buổi trưa. Một đứa bảo buổi trưa mặt trời gần hơn vì nóng bức
hơn. Tranh luận mãi không lại, hai đứa nhờ Khổng Tử giải đáp. Khổng Tử
nghe mà không biết giải quyết ra sao.
Hai đứa trẻ cười bảo: “Thế thì cho ông
là người học rộng, hiểu nhiều thế nào được”. Phải chăng đây chính là bi
kịch của học thuật Trung Hoa, nhìn rộng ra là bi kịch của học thuật
phương Đông truyền thống?
Không quan tâm trả lời câu hỏi tại sao
trước thế giới tức là chưa có các tiền đề đầu tiên cho phát triển của
khoa học, đó là căn nguyên lý giải tại sao phương Đông đi trước nhưng
nhanh chóng tụt hậu so với phương Tây?
Nếu thừa nhận với văn hóa, chỉ có sự
khác nhau và không có sự hơn kém, thì cần khẳng định văn hoá phương
Đông, trong đó có văn hóa Việt Nam, là một hệ thống khá hoàn chỉnh đã
hình thành từ hàng nghìn năm trước và có sự khác nhau nhất định nếu so
sánh với văn hóa phương Tây.
Sự khác nhau này thể hiện trước hết ở hệ
thống các quan niệm về thế giới, quan niệm về sự tồn tại của con người
và ở các quan niệm, các quy ước văn hóa, các tiêu chí định danh và định
tính sự vật hiện tượng...
Một ví dụ điển hình, không kém phần thú
vị về sự khác nhau này thể hiện qua hai cuộc hành trình vòng quanh thế
giới của Magenllan và Trịnh Hòa. Chuyến vượt biển của Trịnh Hòa đời Minh
đã được tiến hành trước Magenllan hàng trăm năm nhưng không được ghi
nhận là một cuộc thám hiểm.
Còn Magenllan, với chuyến vượt biển của
ông, đã để lại tên tuổi như người đầu tiên đi vòng quanh thế giới để
khám phá. Sự khác nhau được thể hiện hầu như trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống. Như bữa ăn gia đình chẳng hạn.
Bữa ăn gia đình của người Việt chủ yếu lấy cộng đồng làm đơn vị cơ bản, họ ăn cùng mâm, gắp cùng đĩa, và chấm cùng bát...
Đặt sang một bên việc bữa ăn cộng đồng
cho phép mọi người có thể nhường nhịn lúc đói kém, thì tới hôm nay, dù
đời sống vật chất được cải thiện hơn trước thì người Việt vẫn khó thích
nghi với kiểu ăn mỗi người một đĩa.
Lối ăn theo định xuất chỉ được chấp nhận
trong công việc “ca, kíp”, hoặc bữa trưa của viên chức. Còn về cơ bản
trong một ngày, gia đình vẫn quần tụ quanh mâm cơm như là hành động biểu
thị cho giá trị gia đình.
Bữa ăn cuối ngày (bữa chiều) của đa số
gia đình Việt Nam (kể cả ở đô thị) hiện tại, trở thành một “cuộc họp”. Ở
đó, mọi người không chỉ ăn mà còn hỏi han, bàn soạn công việc, nhắc nhở
việc học hành...
Ngược lại, người phương Tây lại lấy cá
nhân làm đơn vị cơ bản trong bữa ăn gia đình, mỗi người một đĩa, mỗi
người tự cắt, xẻ thức ăn và người ta dễ thích nghi với fastfood - thức
ăn nhanh.
Sự cố kết lấy cộng đồng làm đơn vị cơ
bản thường tạo ra cho cá thể sức mạnh của số đông đứng sau, đứng cạnh và
thường làm cho cá thể khó tách ra khỏi cộng đồng để tự sinh tồn.
Điều này hoàn toàn khác với kiểu tổ chức
khá “lỏng lẻo” của các cộng đồng phương Tây, K. Marx đã nhận ra điều
này khi ông sử dụng hình ảnh “củ khoai tây” và “bị khoai tây” để nhận
xét về khả năng liên kết giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân ở
Pháp trong Công xã Pari (1871).
Vài thập kỷ gần đây, trước ảnh hưởng của
một số vấn nạn có nguồn gốc từ văn minh công nghiệp tác động không lành
mạnh tới sự phát triển của xã hội - con người, đã xuất hiện một xu
hướng là tìm về với các thành tựu của văn minh phương Đông.
Điều này là cần thiết, chỉ tiếc rằng,
trong khi say sưa với quá khứ phương Đông, một số tác giả lại đề cao nó
đến mức cực đoan, hy hữu có trường hợp còn tỏ ra quyết liệt đến mức phủ
nhận thành tựu của văn minh phương Tây.
Chuyện không đơn giản như vậy, nếu thừa
nhận một thế giới thống nhất thì cần thừa nhận việc xem xét phương Đông
và phương Tây chỉ là xem xét hai mặt của một chỉnh thể.
Không thể bằng tuổi lịch sử của một nền
văn hóa để đánh giá nó mạnh hay yếu, quan trọng hơn là nền văn hóa ấy đã
đạt những thành tựu và đóng góp gì cho văn hóa nhân loại.
(Đón đọc kỳ II: Đông và Tây- khác biệt về văn hóa và tư duy )
(Đón đọc kỳ II: Đông và Tây- khác biệt về văn hóa và tư duy )
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét