2- Vòng kim cô CNXH
Người Pháp vừa mới cho xuất bản cuốn: "Le livre noir du Communisme"
(Sách đen của chế độ cộng sản). Đọc giới thiệu qua về cuốn sách này
thấy đã phát khiếp. “ “Trong 864 trang sách, các tác giả phác họa một
bản thống kê khiếp sợ của một thế kỷ dưới chế độ độc tài cộng sản: từ 85
đến 100 triệu người chết. Theo các tác giả, tại Liên xô, Stalin giết
hại khoảng 20 triệu người; tại Trung Quốc khoảng 65 triệu; tại Bắc Triều
Tiên: 2 triệu; tại Việt Nam: một triệu; tại Campuchia: 2 triệu (thời
Pol Pot); tại các nước Ðông Âu: 1.150.000; tại Cu ba và Mỹ Latinh:
1.700.000; Ngoài ra còn có 10.000 thuộc nội bộ Phong trào cộng sản quốc
tế bị thanh toán theo lệnh của Stalin… “
Từ những nguồn thông tin
đó, Zìn tôi thấy, giá như chúng ta có điều kiện đọc, suy ngẫm về thời
cuộc, xem xét lại chính mình. Và chúng ta thử trao đổi xem, chủ nghĩa
Mác, kim chỉ nam cho mọi đường lối tư tưởng của Việt Nam có phải là bách
chiến, bách thắng hay không? Và đó có còn là cứu tinh của Việt Nam nữa
hay không?
Chủ nghĩa Marx chưa bao giờ là cứu tinh của Việt Nam cả.
Không những thế nó còn là Đại Họa cho Việt Nam và cả thế giới. Công bằng
mà nói thì cái mà chúng ta thường gọi là chủ nghĩa Marx ở Việt Nam,
thực ra là Marx-Lenin, thậm chí là Stalin, Mao Trạch Đông. Nghĩa là một
thứ chủ nghĩa Marx đã bị cực đoan hoá đi rất nhiều, đến mức đi ngược hẳn
với những lý tưởng ban đầu của Marx.
Tuy nhiên bản thân chủ nghĩa
Marx ngay từ nguyên thuỷ cũng đã chứa đựng rất nhiều yếu tố sai lầm và
cực đoan. 2 sai lầm chí tử của Marx là
1/ Sai lầm về Động Lực phát triển của Xã Hội Loài Người
2/ Sai lầm về Bóc Lột Giá Trị Thặng Dư.
Nguyên
nhân tất cả các sai lầm của Marx là sai lầm trong tư duy và phương pháp
luận triết học. Marx là người hâm mộ Hegel về Biện Chứng pháp. Marx tự
nhận là thuộc phái Hegel cánh tả và Duy Vật Biện Chứng. Marx phê phán
Hegel duy tâm, nhưng thực tế Học Thuyết Marx lại Phi Biện Chứng và Duy
Tâm hơn cả thầy mình.
Trong tư duy Marx bị mắc bệnh Tuyệt Đối Hoá và trong phương pháp Marx mắc bệnh Qui Nạp phiến diện.
Marx
đã tuyệt đối hoá vai trò đấu tranh giai cấp, mà không nhìn thấy vai trò
của đấu tranh dân tộc, tôn giáo, văn hoá v.v....trong quá trình phát
triển của lịch sử loài người. Marx đã tuyệt đối hoá vai trò của giai cấp
công nhân, chỉ toàn nhìn thấy măt tốt mà không nhìn thấy mặt hạn chế
của giai cấp này. Ngược lại Marx lại chỉ nhìn thấy mặt xấu của giai cấp
tư sản, mà không nhìn thấy mặt tốt của họ. Do đó dẫn đến các kết luận
hoàn toàn sai lầm về đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp tư sản, thiết
lập công hữu về tư liệu sản xuất và thực hịên chuyên chính vô sản
.....Marx có thể đã không nghiên cứu các tư tưởng triết học phương Đông,
nên triết học của Marx quá cực đoan. Marx chí thấy tính Đối Kháng,
Triệt Tiêu lẫn nhau của các mặt Đối Lập mà không thấy tính Đối Đãi, Hoà
Đồng giữa chúng.
Về phương pháp luận Marx mắc bệnh Qui Nạp phiến
diện. Toàn bộ học thuyết Marx về Duy Vật Lịch Sử, đặt trên cơ sở nghiên
cứu Lịch Sử phát triển xã hội châu Âu. Cuốn Tư Bản được viết trên cơ sở
chỉ nghiên cứu lịch sử phát triển của kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ
18-19.
Do đó học thuyết Marx vừa phiến diện vừa cực đoan, vừa sai
lầm vì không có tính qui luật phổ quát. Marx có tham vọng quá lớn, trong
khi nền tảng tư duy và phương pháp luận lại mắc quá nhiều sai lầm và
thiếu sót. Vì vậy chủ nghĩa Marx không có tính khoa học mà chỉ là một
Utopia. Điều này đã được nhiều triết gia, kinh tế gia hoặc nhà xã hội
học phê phán. Người nổi tiếng nhất là Karl Popper trong tác phẩm " Sự
khốn cùng của chủ nghĩa lich sử " đã chỉ ra rất rõ những sai lầm, phiến
diện , phi khoa học của Marx.
Thường để xét tính khoa học của một
phát minh, sáng chế hay thậm chí là một học thuyết, giới chuyên môn khảo
sát công trình qua tiêu chuẩn IMRAD, là viết tắt của 5 bước sau :
1/ Introduction: Nhập Đề
2/ Method : Phương Pháp
3/ Result : Kết Quả
4/ Affirmation : Xác Quyết
5/ Discursion: Biện Luận
Hoc
Thuyết Marx nếu khảo sát theo mô hình này, chỉ qua được bước 1 Đặt Vấn
Đề ( Xoá bỏ Bóc Lột ) nhưng gặp trục trặc ngay ở bức 2 Phương pháp ( Đấu
tranh giai cấp, công hữu hoá ) và thất bại ngay ở bước 3 Kết Quả. Do đó
sẽ bị loại khỏi danh sách các công trình Khoa Học. Bản thân Marx về
cuối đời cũng tự nhận mình không phải là một nhà marxist.
Một
trong những thiếu sót nghiêm trọng của Marx là trong khi quá say sưa với
vẫn đề công hữu hoá tư liệu sản xuất, Marx đã "quên" mất vấn đề tối
quan trọng là công hữu hoá quyền lực. Đó cũng bởi vì Marx mắc bệnh tuyệt
đối hoá giai cấp, quá tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp của giai cấp
công nhân mà quên mất rằng nó cũng có đầy những tính xấu như bất cứ giai
cấp nào hay con người nào khác. Hậu quả của kẽ hở này là ở các nước đi
theo mô hình của Marx, đảng cộng sản sau khi nắm được chính quyền đã trở
thành giai cấp thống trị mới còn tệ hại hơn giai cấp thống trị cũ, do
nó được biện minh bởi học thuyết mới. Với công thức công hữu hoá. Đất
đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng chính quyền lại là sở
hữu riêng của đảng cộng sản, bất khả tương nhượng, nên trong các nước
theo mô hình XHCN, đều trở thành những chế độ phong kiến kiểu mới - chế
độ phong kiến không vua, hay đúng hơn là không ngai - đảng cộng sản ở
những nước này, trở thành những chính đảng giàu có nhất thế giới, trở
thành các siêu địa chủ - tư sản, do chỗ họ trở thành chủ sở hữu thực tế
của toàn bộ tài sản quốc gia - điều ngay cả một ông vua phong kiến cũng
không sánh nổi ( ngày xưa quyền sở hữu của vua bị dừng lại ở đất đai,
tài sản của nhà chùa, nhà thờ, giáo hội ....Ngày nay, tất cả đều là của
toàn dân, do nhà nước quản lý, nhưng đảng cộng sản lại là người chiếm
hữu duy nhất nhà nước đó, nên thực tế đảng chính là ông chủ. )
Nguồn: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmn3n3n4n31n343tq83a3q3m3237n3n
Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011
Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011
Hệ thống tri thức mở
Phương cách tư duy: Hệ thống tri thức mở (15 / 10 / 2011)
| |
|
(CTG)
Xã hội Việtnam đã đi được một bước khổng lồ đầu tiên trên thực tiễn: từ
phương cách tư duy ý thức hệ chuyển sang các hệ thống tri thức mở. Con
đường đã mở ra đó mời gọi xã hội tiếp bước, một cách bình thản, sáng
tạo, từ tốn, bao dung, nhưng dứt khoát.
Có quan trọng không? Cực kì quan trọng! Xã hội Việtnam đã đi được một bước khổng lồ đầu tiên trên thực tiễn: từ phương cách tư duy ý thức hệ chuyển sang các hệ thống tri thức mở. Con đường đã mở ra đó mời gọi xã hội tiếp bước, một cách bình thản, sáng tạo, từ tốn, bao dung, nhưng dứt khoát. Đêm dài trung cổ Tất cả các xã hội trên thế giới đều đã từng được ninh nhừ trong các nồi hầm “đêm dài trung cổ”. Không cần phải giải thích dài dòng, nguyên tắc lớn nhất là mỗi con người của các xã hội đó không cần và không có quyền được có các suy nghĩ riêng về các cư xử tổ chức xã hội: hãy làm theo cái mà bề trên yêu cầu. Bề trên là tập tục, là giáo lý tôn giáo, là giáo chủ. Trong xã hội Á Đông xưa thì vua chúa thường đóng luôn vai giáo chủ này. Chỉ có một hệ ý thức đơn giản đóng vai trò uốn nắn cách nghĩ cho muôn dân. Chuyển đoạn ý thức hệ Với các tiến bộ về tinh thần, khoa học, công nghệ, các xã hội dần dà cựa mình. Con người hiểu dần ra giới tự nhiên và tìm cách khai thác, “chinh phục” các sức mạnh của tự nhiên. Nhưng con người chậm hiểu được nhất về chính bản thân mình, về tổ chức xã hội và tinh thần của mình, để rồi hẵng nói đến chuyện cải tiến chúng. Con người thường phải đi qua một giai đoạn đặc biệt như một hình thái khác chưa kết thúc của đêm dài trung cổ, giai đoạn chuyển mình mang tính ý thức hệ: người ta bắt đầu ý thức về hệ thống ý thức chính thống, nghi ngờ mặc cả với nó, nhưng chưa biết làm sao để vượt lên khỏi chính nó. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào sức thức tỉnh, khả năng học hỏi, và năng lực tự tái tổ chức tiến hóa của các cộng đồng. Giai đoạn ý thức hệ này thường mang những đặc điểm như sau trong các ý thức cộng đồng. Một hệ thống cắt nghĩa giữ vai trò độc tôn. Hệ thống này hình thành tùy theo các điều kiện tôn giáo, văn hóa, lịch sử… mà có các hình hài khác nhau ở các cộng đồng khác nhau. Điểm chung là hệ thống này mang tính độc tôn, không dung dưỡng các hệ thống lý giải khác cùng tồn tại. Đức tin được đặt lên trên sự nghi ngờ. Các tư duy, các phán xét đặt lại các vấn đề đều bị xã hội coi như lạc đàn, phản xây dựng, làm hao mòn đức tin. Vùng cấm địa. Ngay cả những tư duy chấp nhận hệ thống chính thống cũng bị cấm động chạm đến những vấn đề thuộc về những vùng cấm địa. Đóng kín. Ngay cả những suy tư theo hệ thống chính thống cũng không được phép mở rộng các quan sát ra những hiện thực “bên ngoài kia”. Ví như hệ thống chính thống cho rằng “đạo Hồi phải là nền tảng của pháp luật» thì không ai có thể đặt vấn đề một nền pháp luật tồn tại bên ngoài đạo Hồi. Chân lý tuyệt đối. Một phức hợp các chân lý tuyệt đối thường được đăng quang, mọi suy nghĩ và thảo luận chỉ được phép đóng vai trò thuyết trình cho những chân lý ấy. Phi thời gian. "Tri thức” của hệ thống chủ đạo có tinh thần “một lần cho mãi mãi”, hướng dẫn mọi tìm hiểu, giải thích toàn bộ lịch sử, hôm qua, hôm nay, hôm mai, một cách bất chấp thời gian. Chống sợ hãi. Loại bỏ một cách mơ hồ sự sợ hãi trước mọi vùng chưa hiểu biết được. Hệ thống này đặt vấn đề bào chữa cho các quan sát của mình về thế giới trước khi tìm hiểu nó. Nó làm như mình có sẵn mọi câu trả lời cho những nỗi lo sợ triền miên của con người, từ như cái chết, sự mờ mịt về tương lai, cho đến sự lo lắng về thế giới rộng mở xung quanh, về những phiêu lưu mới sẽ phải trải qua trên đường đời… Quyền lực tuyệt đối. Thực chất quyền lợi của nhóm lợi ích thắng thế được trình bày thành lợi ích chung bất khả thương nghị. Bất chấp mâu thuẫn. Mọi mâu thuẫn, bất kể thuộc lĩnh vực nào, đều được dung nạp và tái giải thích gắng gượng trong hệ thống này. Khi đời sống phức tạp lên, hệ thống này tích nạp mọi điều vô lý và thúc đẩy sự rối loạn suy tư trong xã hội. Vô chính phủ. Như một hệ quả cực đoan, xã hội hình thành song song trong nó tính vô trật tự, “vô chính phủ” trong nhận thức, ngay cả trong giới cầm chịch. Tính thủ pháp. Tính chất này ngày càng được đề cao trong thực tế để giải quyết các công việc theo tính vụ việc cần kíp tức thì, do bản thân hệ thống này khó lòng giải quyết được việc lý giải ổn thỏa. Tuyên truyền lấn át thông tin. Nhiều khi người ta phải thông qua các tuyên truyền để đoán ra các thông tin, đoán ra cái gì đó mới xảy ra. Xã hội đồn đoán phát triển thay thế cho xã hội được thông tin, mê tín thay thế sự phân tích lý tính. Ngôn ngữ chết cứng là điều thường nhận thấy. Khi hệ thống không đảm đương được tính thuyết phục nữa, nó đành chỉ quan tâm đến mục đích ngắn nhất theo cách khiên cưỡng bất chấp. Phép ngụy biện khi này được lạm dụng dễ dãi. Khoa học luận trở nên sáo ngữ hàn lâm, và được sử dụng khắp nơi để trang trí cho sự thiếu hiểu biết, mang tính lấn lướt, lạm niệm. Thái độ thù địch với các thay đổi thường được thể hiện thường trực, thay vì tinh thần sẵn sàng vươn tới tìm hiểu những cơ hội mới. Tính phải đạo và sự vâng lời được đề lên thành chuẩn mực. Yếu tố lý trí tập thể được đẩy lên thành phản xạ. Xúc cảm được đặt ở vị trí thống trị đối với phân tích lý tính. Tính nhận thức cắt rời lịch sử được kích hoạt, làm như người ta đang sống và suy nghĩ, hành động trong một cuộc đảo lộn tẩy não vĩ đại về nhận thức. Các yếu tố của giáo lý vừa được đánh bóng, vừa được hiển nhiên hóa, nhàm hóa, phổ thông hóa. Cuối cùng sự tôn thờ giả-đồng-thuận được đẩy lên thành thiêng liêng. Hội nhập toàn cầu: các hệ thống hiểu biết mở, phi độc đoán Xã hội phát triển, cởi mở, hội nhập toàn cầu, tự do hóa các lưu chuyển vốn, công nghệ, nhân lực… đưa con người đến một thực tế mới. Đời sống trở nên năng động, phong phú, đa dạng, phức hợp. Con người dần từ bỏ ảo ảnh rằng mình luôn luôn đã là người biết hết mọi chuyện, đã nhận rõ tương lai rốt cùng, và luôn luôn thắng cuộc. Con người học chung sống, học hợp tác, giữa mọi cá nhân và các tổ chức, ở phạm vi trong nước và toàn cầu. Khối tri thức của nhân loại chui vào trong từng máy tính, trong từng điện thoại thông minh của từng con người, và mỗi con người đó lại có thể đang dịch chuyển trong các không gian công việc hay đời sống của nền chính trị-kinh tế-xã hội của toàn cầu len lỏi khắp ngóc ngách mọi nơi. Con người cùng xã hội của anh ta buộc phải trở nên dũng cảm hơn, và khiêm tốn hơn. Anh ta cùng xã hội phải học cởi mở, học suy nghĩ phi độc đoán, học tích hợp các hệ thống hiểu biết cần thiết, để thành công công việc trong các cộng đồng phức hợp, và để có được hạnh phúc của đời sống cá nhân và hạnh phúc của đời sống cộng đồng.
Theo Tia Sáng
Nguồn: http://thanhgiong.vn/Home/Tri-thuc-moi/NewsDetails.aspx?id=13922
| |
Việt Nam WTO how to
Việt Nam
Chặng Đường Hội Nhập Toàn Cầu
TS. Mai Thanh Truyết
Biến cố tan rã của Liên Xô đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa Cọng sản quốc
tế, chấm dứt tình trạng đối đầu lưỡng cực giữa khối Tự do và khối Cọng sản; từ
đó đưa đến sự hình thành một khuynh hướng chung của thế giới, mệnh danh là toàn
cầu hóa". Khuynh hướng nầy được xem như là một sinh lộ tất yếu của các
nước đang phát triển và đặc biệt là các quốc gia đã một thời đặt mình thuộc
khối Cộng sản quốc tế, nếu muốn tồn tại và phát triển trong tình hình mới. Sự toàn cầu hóa bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, và được chú ý nhiều nhất là lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau cùng nầy, nhu cầu toàn cầu hóa bao gồm sự hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế quốc tế thông qua thương mại, đầu tư ngoại quốc qua những công ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng vốn ngắn hạn, lưu lượng công nhân quốc tế, lưu lượng công nghệ trao đổi, v.v...
Riêng đối với nước Việt Nam, kể từ sau ngày 30/4/1975, Việt Nam có thể được xem như hoàn toàn thống nhất về phương diện chính trị, địa dư, và xã hội. Lãnh thổ Việt Nam được đảng Cọng sản thu về một mối, được toàn trị do một Trung ương đảng gồm 160 Ủy viên chính thức, 21 Ủy viên dự khuyết, và 14 Ủy viên Bộ chính trị, tổng cộng 195 bộ óc ưu việt Việt Nam điều hành tất cả mọi sinh hoạt của 84,7 triệu dân (thống kê tháng 5/2006).
Đứng về phương diện phát triển kinh tế và xã hội trong 10 năn đầu tiên sau 1975, hầu như tất cả mọi người trong và ngoài nước đều đồng ý rằng sự thất bại hoàn toàn của một chính sách kinh tế tập trung. Đây là một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam, ngay cả so với thời phong kiến và thới Pháp thuộc.. Mọi sinh hoạt đều bị đình trệ, nhiều vùng bị nạn đói đe dọa thường xuyên dù trước đây là vùng lương thực cho cả nước như Đồng bằng sông Cửu Long. Giáo dục, y tế công cộng hoàn toàn bị bỏ ngõ...
Đứng trước nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986, một chính sách kinh tế mở được khơi mào dưới chiêu bài "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" nửa vời, người dân bắt đầu được nới lõng hơn trong vòng kềm kẹp, nông dân được cấp quyền xử dụng mãnh đất của mình dù là tạm bợ để tự khai thác và tự cứu vãn đời sống kinh tế của gia đình. Những năm tiếp theo sau đó, nguy cơ tuy vẫn còn đầy rẫy khắp nơi, tình trạng xã hội và kinh tế chung vẫn còn nhiều gập ghềnh, chập chững trên bước đường phát triển và hội nhập vào thế giới bên ngoài.
Từ sau ngày "giải phóng" cho đến năm 1986, cả nước vẫn còn cùng ôm nhau với những tem phiếu qua câu sấm truyến vẫn còn tồn đọng đến ngày hôm nay. Đó là:
- Gạo vừa 13 ký, suốt tháng cháo thừa, cơm thiếu, quanh năm no cậy nước;
- Vải vừa 4 nghìn ly, suốt ngày quần thiếu, khố thừa, cả đời ấm nhờ da.
Nhưng mãi đến tháng 12 năm 2001, khi Hiệp ước Thương mãi hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành hình (US-VietNam Bilateral Trade Agreement), kinh tế Việt Nam tương đối hồi sinh và có thể nói đây là bước mở đầu tiện của VN trên tiến trình hội nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Cũng cần nói thêm về những thông tin trao đổi kinh tế hai chiều giữa VN và HK trong giai đoạn trước đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không xuất cảng hàng hóa vào nội địa HK; ngược lại, VN nhập cảng 7 triệu Mỹ kim thiết bị từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng thống Clinton, HK đã ra quyết định bãi bõ lịnh cấm vận thương mại cho VN; kể từ đó, VN bắt đầu tăng dần việc xuất cảng sang HK lên đến trị giá 50,5 triệu cho năm này.
Bảy năm sau khi hiệp ước trao đổi hai chiều ký kết, hàng hóa VN gồm thực phẩm, hàng may mặc, dầu thô, giày da, sản phẩm gỗ nội thất ồ ạt vào thị trường HK, và lượng hàng hóa tiếp tục tăng mãi, từ 1 tỷ Mỹ kim năm 2001, lên đến 5,9 tỷ, năm 2005. Ngược lại, HK chỉ xuất cảng độ 1,2 tỷ vào VN trong năm 2005. gồm dụng cụ y khoa, máy móc kỹ thuật và dụng cụ hàng không.
Đây cũng là những chỉ dấu ban đầu cho VN lần lần thực hiện tiến trình gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Và Việt Nam đã chính thức gia nhập vào cuộc chơi toàn cầu nầy vào ngày 7 tháng 11 năm 2006. Bài viết nầy có mục đích phân tích một số thách thức cùng những yếu tố Việt Nam cần phải lưu ý trước tiến trình thực hiện và tuân thủ các quy định trong WTO.
Tổ chức Thương mại Thế giới
Tổ chức Thương mại Thế giới hay World Trade Organization-WTO, có trụ sở đặt tại Thụy Sĩ đã được thành lập chính thức vào ngày 1/1/1995 do các quốc gia thành viện ký tại thành phố Marrakesh, Marocco. Tính đến nay, Tổ chức nầy tập hợp được 149 quốc gia thành viên nhắm vào những mục tiêu sau đây:- Quy định những căn bản pháp lý làm nền tảng cho mọi trao đổi thương mãi quốc tế;
- Tổ chức là diễn đàn đàm phán, thỏa thuận, thương lượng về tất cả mọi dịch vụ thương mại giữa các quốc gia thành viên.
Cũng từ ngày 1/1/1995, VN đã nộp đơb xin gia nhập vào tổ chức trên và trở thành quan sát viện của tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đã được thành lập và có nhiệm vụ cứu xét đơn xin gia nhập của VN.
Tính đến nay, VN đã trả lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và đã kết thúc đàm phán song phương với 21 quốc gia.
Đối với HK, văn kiện chính thức giữa hai bên đã được ký kết vào ngày 31/5/2006 về những thỏa thuận trên nguyên tắcvề khả năng tiếp cận thị trường song phương; từ đó sẽ giúp hai bên tái lập hàng rào thuế quan cho những mặt hàng kỹ nghệ và nông phẩm, cùng dịch vụ.
Kết quả là hàng hóa xuất cảng từ HK vào VN như trang thiết bị xây dựng, dược phẩm, phi cơ và các bộ phận rời bảo trì sẽ chịu thuế xuất là 15% hay ít hơn. Về dịch vụ, VN cũng đã cam kết mở cửa một số lãnh vực cấm kỵ từ trước như viễn thông và viễn thông vệ tinh, lãnh vực tài chính, ngân hàng, và năng lượng cho HK nhúng tay vào.
Một khi đã vào WTO, VN cần phải tuân thủ những tính chất pháp trị như: 1- giải quyết tranh chấp; 2- giảm bớt vai trò của mậu dịch quốc doanh; 3- hủy bỏ những giới hạn nhập cảng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua quyền thương mại; 4- hủy bỏ những quy chế kinh tế phi thị trường. Ngược lại, HK sẽ áp dụng kinh tế phi thị trường trong các vụ kiện chống phá giá cho đến khi VN ra khỏi nền kinh tế phi thị trường. Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy là 12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau cùng, VN phải tuân thủ quy tắc và luật bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Để có một khái niệm về kết quả của việc gia nhập vào WTO trong những năm vừa qua của các quốc gia thành viên, một số báo cáo sau đây cho thấy khuynh hướng cũng như thành quả của WTO ngày càng bị thu hẹp lại. Vào năm 2003, trong kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra những số liệu về thương mại toàn cầu qua dịch vụ trao đổi trên thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539 tỷ nằm trong các sinh hoạt giữa các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho thấy lợi ích của WTO giảm xuống còn 287 tỷ cho thế giới, trong đó chỉ còn 90 tỷ trao đổi giữa các quốc gia đang phát triển dù số thành viên của các quốc gia nầy dự phần vào 90% tổng số thương mại toàn cầu.
Những khía cạnh thực tế
Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức được chấp thuận vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như vào cuối tháng 11/2006 vừa qua, quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn các điều luật trên. Việt Nam đã chính thức nhập cuộc rồi.Vấn đề nơi đây là cần ghi nhận đứng đắn nội lực thực tế của VN đứng trước vận hội mới này, nghĩa là VN trao đổi, xuất cảng ra thế giới bên ngoài những gì? Và ngược lại phải nhập cảng từ ngoại quốc những sản phẩm nào? Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có thể hình dung được thế mạnh và yếu của VN trong tương lai. Từ đó, có thể dự phóng được một viễn ảnh cho đời sống người dân trong những ngày hậu WTO.
Tính đến ngày hôm nay, VN đã xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới một số lượng đáng kể về trọng lượng, nhưng ngược lại thu hồi một số ngoại tệ không đáng kể so với lượng hàng bán ra. Đó là nông phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt hàng gia công như quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô và một số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.
Ngược lại, VN phải nhập cảng xăng dầu và nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, hóa chất, phân bón, thực phẩm "cao cấp" như thịt gà, bò....., năng lượng, viễn thông, ngân hàng..... Đây là những mặt hàng nhẹ về cân lượng nhưng cần phải chi ra một số lớn ngoại tệ. Do đó, VN luôn luôn đối mặt với sự thâm thủng ngân sách cho ngoại thương từ trước đến nay.
Thêm nữa, những mặt hàng xuất cảng của VN chỉ để giải quyết cuộc sống của hàng triệu nông dân hay công nhân với mức lương tối thiểu- trong khi đó cuộc sống của nông dân và công nhân VN ngày càng tệ hại hơn, mặc dù VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng năm. Lấy thí dụ về ngành may mặc hiện tại. Một công nhân Việt Nam làm việc 12 giờ/ngày, sáu ngày/tuần lãnh được từ 600 đến 800 ngàn Đồng VN/tháng, tương đương 37 đến 50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một thợ may Việt Nam tại Mỹ làm việc tám giờ/ngày với mức lương tối thiểu quy định là 7,75 Mỹ kim/giờ, tức 62 US$/ngày, hơn xa một tháng lương của một công nhân cùng ngành tại VN.
Tại thị trường nội địa, hiện tại VN đang làm chủ vì lợi thế sân nhà, và một số ngành nghề còn độc quyền và không cho người ngoại quốc tham dự. Do đó, mức cạnh tranh chưa hề được đặt ra, và nếu có, chỉ là những cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh trong nước mà thôi.
Một khi cánh cửa WTO mở toang, VN sẽ không còn lý do nào để cấm đoán ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa của VN. Từ đó, mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc chắn về phần doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến mãi, và thị hiếu của người tiêu dùng VN.
Xin đan cử một thí dụ điển hình qua hình thức thương mại đơn giản nhất là hệ thống siêu thị : Siêu thị Walmart ( Hoa Kỳ) có mức doanh thu gấp 5-6 lần tổng sản lượng của VN, có thể tiêu diệt các siêu thị nội địa trong cung cách thu mua với giá rẽ hơn vì họ có thể chấp nhận không lời, hoặc lỗ trong thời gian đầu vì có nhiều tiền vốn. Thêm nữa, họ có khả năng nhập thực phẩm và hàng hóa từ ngoại quốc vào- điều trên đâøy càng nguy hiểm hơn vì nó có thể giết chết nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa của người dân. Một lợi thế nữa của các siêu thị ngoại quốc là dịch vụ thanh toán thường chỉ giải quyết sau 90 ngày nhận hàng, chính điều này khiến cho những nhà cung cấp VN sẽ không còn khả năng tài chính để trả nợ cho ngân hàng sau mỗi thời vụ.
Trước mắt, chúng ta thấy rõ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây đang đi dần vào chỗ bế tắc :
- Kỹ nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản vì không cạnh tranh được so với đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất tốt hơn và giá rẽ hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của nông dân trồng mía.
- Chăn nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng trước cơn phá sản do kỹ thuật chăn nuôi còn nhiều khiếm khuyết. Từ đó, việc nhập cảng cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là một dịch vụ đem nhiều lợi nhuận lớn lao. Vì cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẽ $0.2/bls ( vì người Mỹ không thích ăn) , khi nhập vào VN có thể bán ra $1,5/kg.
- Các kỹ nghệ đơn giản khác như xe đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội thất sẽ không còn khả năng cạnh tranh với hàng TQ nếu chưa nói đến các nhà sản xuất lớn như ở HK, Pháp, Ý..... Những mặt hàng rất bắt mắt và được người VN ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lý ưa chuộng hàng ngoại quốc của người VN sẽ giết chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi chung. Và mặt trái của WTO có thể biến VN thành một thị trường tiêu thụ của quốc tế hơn là một thị trường sản xuất.
Một số rào cản VN đang đối mặt trước ngưỡng cửa WTO được tiếp tục trình bày sau đây cũng là những gợi ý mà VN cần lưu tâm. Đó là những cản ngại của khu vực quốc doanh, ngành ngân hàng, khả năng vận chuyễn đường biển, ngành viển thông di động và một số phản ứng tâm lý của người dân VN trước tiến trình toàn cầu hóa.
Cản ngại của khu vực quốc doanh
Một trong nhiều yêu cầu để VN gia nhập vào WTO là VN phải minh bạch trong việc kiểm toán chi thu của quốc gia. Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử đảng, CSVN đã đưa ra bản báo cáo từng phần ngân sách nhà nước năm 2005. Theo đó, riêng trong lãnh vực quốc doanh, 19 tổng công ty và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc, cho thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa đến việc thua lỗ và công ty quốc doanh đã làm kinh tế theo một chính sách phi kinh tế . Sau đây là vài con số thua lỗ cũa các công ty quốc doanh trong năm 2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng ; ngành giấy lỗ 199 tỷ Đồng ; ngành lương thực lỗ 183 tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương đương 60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ của 16 doanh nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ đồng, tương đương với 80% tổng tài sản của các công ty. Do đó, những công ty trên hoàn toàn không còn khả năng thanh toán phần nợ và lỗ lã.Hiện tại, con số các công ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa (tức tư nhân hóa) là 3.830. Trong đó vốn nhà nước là 49%, công nhân viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ lệ và thành phần cổ đông như trên, thì trách nhiệm hay linh hồn của công ty vẫn là nhà nước hay quốc doanh mà thôi. Và đối với việc kinh doanh lỗ lã trên, nhà nước VN lại phải gánh chịu hay " Đất nước VN" qua hơn 84 triệu dân, phải cật lực lao động để trả nợ? Và một khi đã "giải tư" theo cung cách vừa kể, công ty tư doanh cổ phần sẽ thuộc về ai? và ai sẽ chịu trách nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa để thỏa mãn yêu cầu cũa những luật định WTO, vô hình chung, VN đã biến các công ty quốc doanh thành một loại công ty dưới cơ chế bao cấp khác.
Ngoài ra, đừng quên rằng, đã từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ chế làm kinh tế bao cấp đã đưa đất nước vào ngõ cụt. Có thể nói nhận định gần đây của ông Đào Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng hiện tại, đã nói lên một cách rốt ráo vấn đề nầy: " Trong hơn 10 năm qua, song song với vịệc tư doanh đổi mới và tăng trưởng thành công, khu vực kinh tế nhà nước trên thực tế đã trở lại cơ chế cũ tập trung quan liêu - bao cấp, có khác chăng là trong nền kinh tế thị trường "bao cấp hiện vật" chuyển thành "bao cấp tài chính" ". Và cơ chế bao cấp này cũng chính là mọt hình thức của cơ chế xin - cho, đã trở thành miếng đất màu mỡ cho nạn tham nhũng lộng hành trong khu vực nhà nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở đến các cấp cao nhất của chính quyền".
Như vậy, VN làm thế nào và bằng cách nào để thực hiện được lời T.T Nguyễn tấn Dũng mới vừa tuyên bố là trong vòng 5 năm tới, VN bảo đảm cổ phần hóa 100% doanh nghiệp quốc doanh?
Cản ngại của ngành ngân hàng
Cũng theo quy định của WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp nhận dịch vụ ngân hàng ngoại quốc trong giai đoạn chuyển tiếp (năm năm sau khi gia nhập) có thể đầu tư tối đa 30% tổng số vốn của ngân hàng. Một khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào có thể mua cổ phần còn lại (tức 70%) của một ngân hàng ngoại quốc, vốn dĩ có nguồn vốn lớn và bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard currency), trong lúc đó tư nhân, hay tập thể tư nhân VN chỉ có khả năng đóng góp bằng những số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như chuyển hóa cơ sở vật chất thành tiền. Từ đó, dù công ty ngoại quốc không chiếm đa số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng khuynh đảo thị trường bằng những thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn này.Trở lại các Công ty ngân hàng VN, một trong những lý do các doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay, là việc nhà nước tiếp tục bơm tiền bù lổ thông qua các ngân hàng quốc doanh . Hay nói cách khác, các ngân hàng phải chịu sức ép từ nhà nước, bị bắt buộc tiếp tục cho công ty quốc doanh vay căn cứ theo chủ trương chính trị hơn là căn cứ theo tình trạng kinh tế.Và sau cùng, ngân hàng được nhà nước tái cấp thêm những ngân khoản bổ sung. Đó là trường hợp của bốn ngành Ngân hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển. Do đo,ù việc cổ phần hóa ngân hàng quốc doanh hoàn toàn bế tắc, và việc chuyển doanh nghiệp quốc doanh sang chế độ hoạt động của một công ty trách nhiệm hữu hạn là một việc làm không tưởng, ít ra trong những năm sắp tới.
Cản ngại về khả năng chuyễn vận hàng hóa
Việc gia nhập vào WTO đòi hỏi quốc gia thành viên phải có tiềm lực về chuyễn vận hàng hóa hai chiều. VN đã chuẫn bị vấn đề này như thế nào? Các thông tin dưới đây tương đối đầy đủ để mô tả tình trạng vận chuyển đường biển của VN.Chỉ bốn ngày sau khi được bãi bỏ cấm vận năm 1994, công ty chuyễn vận hàng hóa APL, Hoa kỳ đã bắt đầu hoạt động trở lại cho các tuyến đường Mỹ - Việt Nam. Đây là một đại công ty trong dịch vụ chuyễn vận trên 50 quốc gia. Từ năm 2004, APL đã thành lập thêm hai chi nhánh là Vietnam China Express (VCX ) và Haiphong China Express (HCX ). Những dịch vụ này đã rút ngắn thời gian vận chuyễn trong những năm trở lại đây: Từ Sài Gòn đến Seattle chỉ còn 15 ngày, và Saigòn đến Los Angeles là 17 ngày. Còn Hải Phòng đến Seattle và Los Angeles là 13 và 15 ngày. Ưu điểm này đã làm giảm giá thành và tăng thêm lượng hàng hóa giao thông do việc gia tăng lượng chuyển vận đi - về.
Trong khi đó, tình trạng vận tải đường biển của VN hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu vận chuyễn viễn liên này. Theo thống kê, VN có trên 1000 tàu với tổng trọng tải khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300 tàu hoạt động trên các tuyến đường quốc tế trong khu vực. Các tàu vận chuyển VN có trọng tải dưới 20,000 tấn, cho nên không có khả năng giải quyết mức trao đổi hàng hóa đường biển. Và bất lợi hơn nữa là giá thành vận chuyển cao và vòng xoay đi - về không đạt hiệu quả kinh tế.
Theo thống kê 2005, đội tàu VN chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng hóa 2 chiều mà thôi. Trong lúc đó những nước nhỏ láng giềng như Singapore chỉ có khoảng 900 tàu nhưng tổng trọng tải lên đến 36,5 triệu tấn. Thậm chí, đội tàu của Campuchia đã chuyễn vận gần 5 triệu tấn, hơn VN hàng triệu tấn. Do đó, ngay tại sân nhà, đội tàu VN đã bị lấn áp bởi các công ty ngoại quốc như Maersk line, NYK, P&O trong dịch vụ chuyển vận dầu thô và hàng hóa trong vùng.
Những thông tin trên cho thấy rằng VN còn phải đối mặt với nhiều sức ép sau khi gia nhập vào WTO, và nếu không có kế hoạch tạo dựng một lực lượng tàu với trọng tải lớn hơn, huấn luyện nhân viên quản trị chuyễn vận, cùng điều chỉnh và canh tân hệ thống quản lý điều hành, thì cuộc chạy đua cạnh tranh với quốc tế sẽ thấy VN ở thứ hạng thấp nhất.
Cản ngại của ngành viễn thông và điện thoại di động
Đây là một ngành tương đối mới ở VN mà trong những năm gần đây mức tăng trưởng của việc xử dụng điện thoại di động tăng từ 60 đến 70% hàng năm. Tính đến 2005, tổng số điện thoại di động thuê bao ở cả nước đạt được 12 triệu . Chính vì lý do đó, các hảng điện thoại ngoại quốc như Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor và Lucient Technologies đã khai thác và ráo riết cung cấp dịch vụ ở VN. Trong lúc đó, VN chỉ hiện diện qua năm công ty quốc doanh mạng di động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile, S-fone, E-mobile đang hoạt động, và một công ty mới sắp ra mắt là Hanoi Telecom.Đứng trước sự xâm nhập của các đại công ty ngoại quốc, từ tháng 1 năm 2006 vừa qua, các công ty VN đồng loạt hạ giá cước, do đó cước viễn thông của VN giảm dần và đang ở mức giá trung bình tại ĐNA, không còn đứng đầu như cách đây năm năm. VN cũng đã dự trù vào 2008 sẽ phóng vệ tinh VINASAT, từ đó sẽ tạo cơ hội cạnh tranh nhiều hơn với các công ty nước ngoài. Và VN cũng dự trù cổ phần hóa (tư nhân hóa) các công ty trên để có thể hội nhập vào thị trường chứng khoán tự do.
Nhờ vào những lợi điểm trên sân nhà, VN đã đẩy mạnh chương trình viễn thông di động, tuy nhiên với nguồn vốn không đủ lớn, sau khi hội nhập cuộc chơi WTO, các công ty ngoại quốc có thể khai thác sức mạnh nguồn vốn để thôn tính các công ty VN qua các điều kiện thuận lợi trong thị trường VN, mặc dù trong giai đoạn chuyển tiếp, các công ty nước ngoài chỉ được đóng góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác VN đã được cấp giấy phép.
Hơn nữa, ngoài khả năng nguồn vốn, công ty ngoại quốc còn ở thế mạnh về công nghệ sản xuất và cung cách khuyến mãi theo cung cách tư bản làm cho công ty VN khó có khả năng đối đầu ở mặt trận nầy. Tuy nhiên, VN cũng có thể dùng thời gian còn đặc ân 12 năm để làm rào cản hạn chế bớt sự xâm nhập của các công ty viễn thông ngoại quốc vào VN.
Cũng cần lưu ý là, hiện tại VN chú trọng nhiều đến viễn thông di động, nhưng không phát triển viễn thông "cố định", tức là điện thoại dùng hệ thống dây cáp quang để có thể liên lạc và thông tin khi có biến động xảy ra như chiến tranh hay áp lực của thế giới tây phương. Vì còn lệ thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ động được việc điều hành vệ tinh viễn thông, cho nên viễn thông di động VN có thể bị gián đoạn, vì các công ty cho thuê bao vệ tinh viễn thông có thể cắt đứt hợp đồng trước sức ép của quốc tế(!) để gây khó khăn cho VN.
Cản ngại do tâm lý dân tộc trước tiến trình toàn cầu hóa
T.S Branco Milanovic, kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra nhận định cần suy gẫm. Đó là "Toàn cầu hóa đã làm tăng thêm sự bất bình đẳng giữa công dân của những nước giàu nhất cũng như giữa các quốc gia đang phát triển". Lý do làm ông đưa ra nhận định trên là những phản ứng trái ngược từ phía các quốc gia kỹ nghệ và những nước đang phát triển đối diện với sự phất triển của ẤnĐộ và Trung Quốc.Đó là:
- Các cường quốc trong WTO "khó chịu" trước nhũng bước tiến của TQ và AĐ, dù họ cũng thực hiện cùng một chiến lược toàn cầu hóa do các cường quốc khơi mào.
- TQ và AĐ hiện có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, nhưng chỉ có một phần nhỏ dân cư của họ có cuộc sống phồn vinh. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa dân thành thi và nông thôn, giữa miền duyên hải và nội địa ở Trung Quốc; những bất ổn chính trị cũng có thể tự đó mà có.
Tại VN, sau hơn 20 năm mở cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng trưởng đạt chỉ tiêu từ 7% trở lên, VN phải đối mặt với tình trạng môi trường hầu như bế tắc qua việc tận dụng nguồn tài nguyên đất đai trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt.
Việc phát triển và xuất cảng hàng năm 5 triệu tấn gạo, thu hồi 1,5 tỷ Mỹ kim, cũng như việc xuất cảng hải sản thu hồi trên 5 tỷ, có đem lại sự phồn vinh hay cải thiện cuộc sống của người dân ĐBSCL hay không? Nhìn vào mức di dân từ vùng này vào các thành phố lớn, nhìn vào tệ trạng học sinh bõ học hàng loạt trong những năm gần đây, nhìn vào việc chấp nhận "làm dâu" người ngoại quốc của các thiếu nữ miền Tây, nhìn vào tất cả những hình thái tệ hại nhất trong việc buôn người, bán trẻ con... chúng ta cũng đã có thể hình dung câu trả lời.
Thêm nữa, việc khai thác quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến mhững thảm họa không xa. LHQ mới vừa cảnh giác, nếu VN tiếp tục khai thác như những năm vừa qua, thì trong vòng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất bị sa mạc hóa.
Đây cũng là nguyên nhân dự báo trước khiến cho tâm lý người dân ở những vùng nông nghiệp, vùng sâu và xa càng thêm tuyệt vọng và ngày càng đánh mất lòng tự trọng để làm bất cứ việc gì chỉ vì kế "mưu sinh". Chính họ đã xem nhẹ số phận của chính mình và không còn niềm tin vào chính sách của nhà nước nữa. Tâm lý trên đã tạo ra một thái độ bất cần đời, bất hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa, là có thể tạo ra những bất ổn xã hội vì "cơm áo". Từ đó có thể đưa đến một bất ổn chính trị nếu có một sự khơi mào trong tầng lớp bần cùng này. Đây cũng là một cản ngại mà VN cần phải lưu tâm.
Thay lời kết
Sự phát triển xã hội của một quốc gia được đánh giá là bền vững khi tầng lớp trung lưu chiếm đa số như ở các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ. Và chính tầng lớp trung lưu nầy là tác nhân điều tiết mọi biến động kinh tế của quốc gia. Trong trường hợp VN, mặc dù mức tăng trưởng có đều nhưng đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng, và trong tình trạng hiện tại, tầng lớp trung lưu chỉ chiếm theo ước tính độ 30% chưa đủ để làm chất đệm cho xã hội. Chính hai yếu tố nầy nói lên cung cách phát triển kinh tế của VN là chưa bền vững được.Đồng thời với việc gia nhập vào ngưỡng cửa WTO, VN đã lên tiếng báo động là có thể có 600 ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ bị mất việc vì cạnh tranh. Vấn đề được đặt ra nơi đây không phải là những con số dương tính hay âm tính. Nhưng l à việc VN cần soi chiếu vào tình trạng hiện tại của quốc gia để hoạch định hướng hội nhập thích nghi với tiến trình toàn cầu hóa mà trong đó việc gia nhập vào WTO chỉ là một bước trong tiến trình trên.
Qua những gợi ý về những cản ngại căn bản trên, việc gia nhập vào WTO của VN không phải là một yếu tố đòn bẩy chủ yếu tạo nên tăng trưởng kinh tế quốc gia. Điều cốt lõi là VN cần phải chuyển đổi não trạng, xác định rõ chính mức tăng trưởng kinh tế quốc gia mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng và thúc đẩy quá trình hội nhập của VN để được thành công hơn. Đây mới đúng là mục tiêu tối hậu của việc hội nhập vào cuộc chơi của toàn cầu.
Muốn đạt mục tiêu, VN cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng trong quản lý, nghĩa là tạo ra một xã hội pháp trị, quản lý bằng luật định của quốc hội chứ không bằng nghị quyết đến từ bất cứ nhân vật cao cấp nào trong đảng. VN cần phải bình đẳng và công bằng trong mọi quyết định về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong vấn đề quản lý kinh tế và kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư nguồn vốn và chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia chung. Đặc biệt là cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn Chuyên, vì đây mới đích thực là một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất nước..
Làm được như thế, VN sẽ giảm bớt gánh nặng phá sản của các công ty quốc doanh, kéo theo mức thâm thủng của ngân hàng qua những món nợ "xấu". Hai yếu tố sau nầy là nguyên nhân chính của tình trạng tham nhũng trong nước.
Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) đã nhận định rằng, qua tám năm thi hành "quy chế dân chủ cơ sở", VN vẫn không thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh mà bị nhiễm bởi "chủ nghĩa hình thức" và môi trường dân chủ của VN là một "môi trường bất thường" vì chế độ độc đảng.
Suy gẫm lại đúc kết của Chương trình Phát triển LHQ, chúng ta có thể thấy được những nguyên do của sự trì trệ trong phát triển Việt Nam từ bây giờ để từ đó, hy vọng có những chuyển đổi tích cực hơn trên đường áp dụng các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Tết Đinh Hợi - 2007
Nguồn: http://www.kinhtehoc.com/index.php?name=News&file=article&sid=262
Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011
Giống Việt Nam (trích Mao)
Xã hội Trung
Quốc đã trở nên khá hung dữ. Hầu như không còn trợ cấp phúc lợi xã hội,
người nào cũng phải tự vật lộn. Điều này người ta có thể cảm nhận ngay
khi trèo lên xe buýt. Nếu như bạn xếp hàng trật tự như một người Anh,
bạn sẽ chẳng bao giờ đi được đến đâu. Nhưng tôi rất mong là phương Tây
sẽ gây áp lực mạnh hơn lên chính quyền Trung Quốc. Do vậy mà tôi viết
cuốn sách này.
Nguồn: VN thư quán
Nguồn: VN thư quán
Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011
Gửi vàng, ngoại tệ không được bảo hiểm - bước 1
Gửi vàng, ngoại tệ không được bảo hiểm
(Dân trí) - Người gửi tiền chỉ được bảo hiểm với
tiền gửi bằng đồng Việt Nam, không bảo hiểm đối với tiền gửi bằng ngoại
tệ và các tài sản khác như vàng, kim loại quý… Quy định này nhằm chống
tình trạng đô-la hóa nền kinh tế.
Luật Bảo hiểm tiền gửi lần đầu
được trình xin ý kiến tại UB Thường vụ QH chiều 12/10. Nội dung dự thảo
do Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình trình bày quy định không bảo đảm tiền
gửi của các hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp
danh. Việc bảo hiểm tiền gửi cho các đối tượng này, theo phân tích,
không phù hợp mục tiêu bảo vệ những người tiêu dùng nhỏ lẻ, thiếu thông
tin.
(Ảnh minh họa)
Mặt khác, tiền gửi của các tổ chức mang tính luân chuyển cao, chủ yếu
nhằm mục đích thanh toán chứ không phải gửi tiết kiệm. Do vậ, dự luật
quy định chủ thể được bảo hiểm tiền gửi chỉ là cá nhân.UB Kinh tế “gật đầu” với quan điểm này khi thẩm tra dự án luật. Chủ nhiệm UB – ông Nguyễn Văn Giàu phân tích, các doanh nghiệp, tổ chức chính trị xã hội khi gửi tiền không thể có vấn đề thiếu thông tin về ngân hàng, tổ chức tín dụng mình lựa chọn. Đó cũng là một quyết định kinh doanh, phần nào cũng phải chấp nhận rủi ro nhất định.
Vấn đề loại tiền gửi được bảo hiểm, Điều 18 dự thảo luật quy định tiền gửi được bảo hiểm là tiền bằng đồng Việt Nam của cá nhân, không bảo hiểm đối với tiền gửi bằng ngoại tệ và tài sản khác.
Cơ quan soạn thảo lý giải, chính sách ngoại hối của Việt Nam hướng tới mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam và chống tình trạng đô-la hóa.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nên áp dụng bảo hiểm tiền gửi với cả ngoại tệ và vàng, kim loại quý… cho phù hợp tình hình thực tế hiện nay. Hiện, một lượng lớn tiền gửi băng ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng thương mại không được bảo hiểm.
Chủ nhiệm UB Tài chính, ngân sách Phùng Quốc Hiển nêu ví dụ so sánh: trường hợp người lao động ở nước ngoài, có tiền gửi về nước thì sẽ gửi đô-la, ngoại tệ mà không được bảo hiểm là không đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền.
“Việc chống đô la hóa là trách nhiệm, công việc của cơ quan quản lý nhà nước. Chỉ có thể can thiệp bằng cách quy định khi rút tiền sử dụng tại Việt Nam phải đổi ra đồng tiền Việt Nam để lưu thông. “Phạm” vào quyền của người gửi tiền là không công bằng” – ông Hiển phát biểu.
Thống đốc Nguyễn Văn Bình “bác” lại, cho rằng ý kiến này không phù hợp thông lệ quốc tế cũng như chủ trương của Chính phủ trong 5 năm tới quyết liệt chống tình trạng đô-la hóa. Quan hệ gửi – vay ngoại tệ, theo ông Bình, phải khắc phục để tiến tới chuyển sang quan hệ mua – bán. Người dân, doanh nghiệp có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng, khi có nhu cầu lại tới ngân hàng mua.
Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng quan tâm đến tiềm lực của Quỹ bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Ông Hùng dẫn chiếu thực tế ở Mỹ, mỗi năm tới 100-200 ngân hàng đổ bể vẫn “không vấn đề gì”. Quỹ dự trữ liên bác FED không cần can thiệp vì bảo hiểm có thể chi trả một lúc 200-300 tỷ USD.
“Việt Nam đang hướng tới hình thành thị trường tài chính hệ thống, vững mạnh nhưng chỉ một tổ chức tín dụng nhỏ cũng không thể để xảy ra đổ bể trong khi phải có việc sàng lọc, loại bỏ mới phát triển hoàn thiện được” – chủ tịch QH phân tích nghịch lý.
Thống đốc Nguyễn Văn Bình thừa nhận, mục tiêu và nội dung đặt ra của luật Bảo hiểm tiền gửi đã xác định rõ là phù hợp đặc thù kinh tế Việt Nam. Quỹ bảo hiểm ở Mỹ lớn vì tích lũy qua thời gian dài nên khả năng bảo hiểm lớn.
Ở Việt Nam, nếu tính 30% số tiền gửi là huy động trong dân tương đương khoảng 100.000 tỷ đồng. Con số này so với số vốn hiện có của Quỹ bảo hiểm tiền gửi còn rất nhỏ, tương lai nhiều năm nữa vẫn chưa thể tương xứng.
Niềm tin của người dân khi gửi tiền, chưa trông vào việc bảo hiểm mà từ chính sách, môi trường tài chính tạo ra trong nước. Mức xếp hạng rủi ro của bảo hiểm tiền gửi, theo đó, tương ứng mức rủi ro của quốc gia. Vì vậy, mục đích xây dựng luật cũng để hướng tới thói quen, tiếp cận dần với thông lệ quốc tế.
Tán thành quan điểm này, Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân “chốt” lại phiên thảo luận với yêu cầu điều chỉnh mục tiêu của hoạt động bảo hiểm tiền gửi đề ra cho đúng thực tế. Không thể quy định, bảo hiểm tiền gửi để phòng chống đổ vỡ dây chuyền với các ngân hàng, tổ chức tín dụng vì số vốn trong Quỹ hiện tại, đổ vỡ tại một ngân hàng cũng khó giải quyết, chưa nói đổ vỡ dây chuyền. Nếu có hiện tượng đó, nhất quyết NHNN phải “ra tay”, không trông chờ quỹ Bảo hiểm tiền gửi.
P.Thảo
Nguồn: http://dantri.com.vn/c76/s76-526566/gui-vang-ngoai-te-khong-duoc-bao-hiem.htm
Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011
Thánh địa của tư bản - Đăng lại SGTT
Thánh địa của tư bản
SGTT.VN - Sau một cuộc họp dài suốt ngày, tôi cáo lỗi
với đối tác, đi ăn một mình và thả bộ trên đường phố. Tôi chợt nhận ra
là mình đang đứng giữa lòng Las Vegas, buổi tối thứ bảy, nhộn nhịp đám
đông, xe cộ và muôn ánh đèn màu rực rỡ. Người ta nói nhiều đến sinh thái
năng động của các thành phố Á châu mới nổi, nhưng tôi chắc chắn rằng
không đâu có thể sánh bằng Vegas. Đủ mọi sắc dân Âu Á Phi, đủ mọi mầu da
đen trắng vàng, đủ mọi loại tuổi, mọi loại quần áo phong cách và mọi
loại thể hình mập ốm cao lùn. Nhưng họ đều chia sẻ một mẫu số chung:
ngất ngây với mùi tiền, mùi tham và mùi vội vã.
|
Vở Alice ở xứ sở thần tiên ở nhà hát Le Rêve, tại khu nghỉ dưỡng – sòng bạc Wynn Las Vegas. Ảnh: TL
|
Tôn giáo nào cũng có những vị thánh và những thánh địa
để giáo dân hướng tâm tư và làm những cuộc hành hương tỏ lòng tôn kính.
Người Thiên chúa giáo tìm về Jerusalem đi lại con đường Thập tự giá của
Chúa Jesus, người Hồi giáo có Mecca và giáo chủ Mohammed, người Phật
giáo quỳ dưới cây bồ đề của Phật Thích Ca ở Patna. Tôn giáo tư bản có
đôla và Las Vegas. Người ta nói nhiều đến New York, nhưng đây chỉ là chỗ
để kiếm tiền, muốn hành hương để tìm biểu tượng cho sức mạnh của đồng
tiền và những thú vui từ đôla, ta phải đến Las Vegas.
Người ta cũng hay nói về Macau, đỉnh mới của cờ bạc,
nhưng vài ba sòng bài lớn và những số tiền khổng lồ thu từ các đại gia
Trung Quốc (bao nhiêu là tiền rửa?), không thể cho Macau một phong cách
của tư bản đại chúng, đa dạng mà sang trọng như Vegas. Một buổi tối cuối
tuần ở Vegas sẽ phô bày tất cả xấu đẹp, sẽ phản ánh mọi đúng sai của
triết thuyết tư bản.
Tôi đến Vegas lần đầu vào năm 1964 khi đi một vòng xứ
Mỹ du lịch ba lô với vài sinh viên cùng trường. Một con đường lớn giữa
sa mạc mênh mông, vài ba sòng bài như ốc đảo, tôi vào Desert Inn, Dunes,
Hacienda… như một anh nông dân Cà Mau bước vào Hyatt, Sheraton ở Sài
Gòn. Ấn tượng và lạ, nhưng không có gì để say mê hay cuốn hút (có lẽ tại
tôi rất dửng dưng với cờ bạc). Qua các thập niên kế tiếp, tôi đến Vegas
khá thường xuyên, vì khi mời các đối tác làm ăn về Los Angeles họp
hành, họ không mặn mà lắm. Nhưng ở Vegas, nơi họ có thể ăn chơi cờ bạc,
tiệc tùng trác táng và trừ phí tổn thua lỗ vào thuế, ai nấy đều hăng
hái. Rồi đến các doanh nhân Trung Quốc vào những năm đầu mở cửa, Vegas
là nơi phải dừng chân.
Đế chế Mỹ càng mạnh thì Vegas càng phát triển. Tôi
chứng kiến một cuộc đua không mệt mỏi qua năm tháng của các công ty cờ
bạc. Wynn tạo danh tiếng với Mirage, Treasure Island rồi cuối cùng là
màn khiêu vũ nước hàng đêm ở Bellagio. Adelson trả lời với Venetian sau
khi xây Sands thành một trung tâm hôi nghị lớn nhất nhì xứ Mỹ. Harrah
nhập cuộc với những thâu tóm ngoạn mục dọc The Strip (con đường chính
của Vegas) như Bally, Paris, Planet Hollywood, Imperial. Nhiều tên tuổi
hàng đầu ngày xưa như Circus Circus, Stardust,… thua cuộc và tụt hậu
thảm hại. Nhiều tay chơi vừa nhập cuộc tạo ấn tượng mới với
Cosmopolitan, Trump, Aria, City Center, Mandarin, Mandalay Bay. Một cuộc
đua thật hấp dẫn và sáng tạo để dành thị trường và lợi nhuận, hoàn toàn
tự phát kiểu tư bản đại chúng. Dubai, Macau, Shanghai, Singapore… cũng
có những cuộc đua, nhưng chỉ là một xếp đặt của giới cầm quyền và cầm
tiền, kết quả thường được định đoạt qua “nghị quyết” nên không gì ngạc
nhiên, và do đó, không gì đáng kể. Giống như một trận đá bóng, không ai
buồn tham dự hay đi coi nếu nhà tổ chức đã xếp đặt sẵn người thua kẻ
thắng.
Một thực tế phải hiểu là trong lịch sử loài người, luôn
luôn có một đẳng cấp thống trị nhỏ nhoi, cố gắng lợi dụng quyền lực và
tiền bạc của mình để áp đặt “giải pháp” của mình trên đại đa số quần
chúng. Từ các bộ lạc xa xưa, qua các triều đại phong kiến, thực dân, đến
các quốc gia Tây phương hiện tại hay các xã hội “bình đẳng” như Liên
Xô, Trung Quốc… giải pháp thường đem lại một cuộc sống “ngon lành” hơn
về đủ phương diện cho giai cấp cầm quyền này. Chế độ tư bản cũng không
khác gì. Lợi dụng công sức và tài sản của quần chúng “ngu ngơ” để làm
đầy túi tiền cá nhân và phe nhóm mình là thủ thuật tinh vi mà các chính
trị gia và đại gia đều thông thạo.
Mục đích như nhau nhưng cách làm thì giới tư bản đã đẩy
lên hàng nghệ thuật. Những chế độ dùng roi vọt gông cùm để thúc đẩy ép
buộc người dân đang đi dần vào quá khứ. Indonesia của Suharto hay Hàn
Quốc của Park Chung Hee ngày nào chỉ còn là dư âm. Tunisia, Lybia,
Egypt, Syria… đang được sắp xếp lại. Ở các xã hội tư bản, người dân làm
nô lệ với tinh thần hoàn toàn tự nguyện. Hai lý do: lòng tham cố hữu của
con người và những món nợ ngập đầu.
Triết thuyết tư bản vẽ ra một cuộc chơi hào hứng là ai
cũng có thể thắng và đem về một phần thưởng đẹp như mơ. Đây là tiền đề
của Las Vegas, của tư bản. Dĩ nhiên, ai cũng biết là xác suất cho thấy
người thua bạc chiếm đến 95% người tham dự. Ngoài xã hội, cũng không
thiếu những người nhận chân ra điều này. Tuy nhiên, giới tư bản còn một
tuyệt chiêu khác: mua trước trả sau. Không nơi nào mà một người tay
trắng có thể mua nhà, tậu xe, sắm sửa tiêu xài như ở xứ Mỹ. Có thể bạn
không muốn nợ, nhưng chắc chắn là vợ con và đa số thành viên gia đình
bạn bè sẵn sàng “shop” dùm bạn. Đòi hỏi duy nhất: bạn phải có việc làm
và phải nô lệ nghiêm túc. Mất việc làm là mất tất cả.
Vì lòng tham và vì cái dây xích nợ vô hình này, cả trăm
triệu nô lệ Mỹ đã đẩy nền kinh tế và xã hội Mỹ lên đỉnh cao thế giới
dưới danh nghĩa “thị trường và tự do”. Trong khi đó các xã hội “phong
kiến cổ hủ” phải trì trệ trong đống bùn vì ngu xuẩn. Các lãnh đạo nơi
đây không hiểu rằng con ngựa sẽ chạy nhanh hơn nếu bạn treo trước đầu nó
một củ cà rốt tươi ngon; chứ không thể dùng roi siết cương suốt chặng
dường dài.
Cuối cùng, Đặng Tiểu Bình và cận thần hiểu được điều
này. Họ đã dùng lòng tham và miếng mồi tư bản giàu có để kích thích cả
tỉ nô lệ sửa đổi định mệnh Trung Quốc và củng cố tài sản cũng như quyền
lực của đẳng cấp thống trị. Họ thành công vượt mơ ước, nhưng vẫn phải
núp mình dưới nhiều tên gọi nghe trái tai. Thực sự, Trung Quốc là một
quốc gia tư bản gấp nhiều lần so với Mỹ, nếu bạn xem xét kỹ các chương
trình phúc lợi xã hội hay quyền lực của các nhóm lợi ích của xứ này.
Nhất là trong thời điểm hiện tại khi xứ Mỹ phải chi
tiêu cả ngàn tỉ đôla mỗi năm cho các nô lệ nghèo và già (vì lá phiếu của
dân chủ); chưa nói đến cả ngàn tỷ đôla khác để bảo vệ hình ảnh của đế
chế (Iraq, Afghanistan) và quyền lợi của tư bản (các công ty đa quốc).
Trung Quốc không bị gánh nặng này. Cho nên, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu
trong vòng 20 năm nữa, thánh địa của tư bản sẽ được dời qua một địa điểm
nào tại Trung Quốc. Nhưng không phải loại tư bản đại chúng, muôn màu và
đa dạng như Vegas, mà là loại tư bản của phe nhóm, ích kỷ, tàn nhẫn và
đơn điệu với chút quê mùa.
TS Alan Phan
Chủ tịch quỹ Đầu tư Viasa
Chủ tịch quỹ Đầu tư Viasa
Nguồn: http://sgtt.vn/Thoi-su/Quoc-te/153761/Thanh-dia-cua-tu-ban.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)