Trong bài "văn hoá khoa học và văn hoá nhân văn" trên Tạp chí Văn
học, số 2 năm 1994, tác giả Hoàng Đình Phu đã viết như sau: "Khoa học
chỉ là một kiểu nhận thức, chứ không phải là kiểu nhận thức duy nhất...
còn có những kiểu nhận thức... dựa vào trực giác, vào suy tư, vào các
hoạt động nội tâm". Paul Feyer, nhà triết học Mỹ cũng đưa ra một luận
đề: đường vào khoa học không chỉ là một tuyến tính mà là "hỗn loạn"
(anarchiste), là "đa nguyên".
Trong lịch sử khoa học, người ta coi phát minh về lý thuyết tương
đối của A.Einstein là sự mở đầu cho khoa học hiện đại, bởi vì từ đây
con người khám phá ra một thế giới mới và gắn liền với nó là một phương
pháp khoa học hoàn toàn khác về chất so với khoa học cổ điển. Trong cuốn
Cơ cấu cách mạng khoa học, nhà triết học người Mỹ Thomas Kuhn cho rằng
mỗi thời kỳ phát triển bình thường của khoa học đều có một hệ thống
chuẩn tương ứng: hiện nay là hệ chuẩn kiểu Einstein, trước đó là hệ
chuẩn kiểu Newton. Nhà triết học người Pháp G.Bachelar lại cho rằng mỗi
giai đoạn phát triển của khoa học là một sự gần đúng: lý thuyết về vạn
vật hấp dẫn của Newton là sự gần đúng thứ nhất, còn lý thuyết tương đối
của Einstein là sự gần đúng thứ hai.
Vào đầu thế kỷ XX, Einstein cùng với Planck đã làm một cuộc “cách
mạng khoa học", đưa đến một hệ thống giá trị mới chi phối cuộc sống
hàng ngày của chúng ta. Sự khám phá một quy mô lượng tử không thể nhận
biết được bằng giác quan với những định luật hoàn toàn khác với những
định luật có thể nhận biết được trong đời sống hàng ngày. Đó là đóng góp
quan trọng nhất của khoa học hiện đại vào tri thức nhân loại. Tư tưởng
này đã đặt nền móng cho một cách nhìn mới về thế giới: thế giới các sự
kiện lượng tử hoàn toàn khác hẳn với thế giới mà cách đây hơn một thế kỷ
do Newton khám phá.
Sự kiện lượng tử không thể tách ra được như một vật thể đã chứng
tỏ rằng thế giới, đó còn là thế giới của những mối liên quan với nhau
giữa mọi sự vật, của các quan hệ, các tác động qua lại. Hơn nữa, thực
thể lượng tử vừa là hạt, vừa là sóng. Ở đây tính liên tục và tính gián
đoạn cùng tồn tại hài hoà. Mặc dù, năng lượng biến đổi theo những bước
nhảy, nhưng thế giới nhìn được của chúng ta vẫn là thế giới của tính
liên tục. Thế giới mới là thế giới của sự sôi động thường xuyên của sinh
và huỷ, của chuyển động với những tốc độ kinh khủng. Năng lượng tập
trung ở quy mô vô cùng nhỏ nhưng có thể đạt tới những giá trị rất lớn,
là điều khó có thể hình đung được trong cách suy nghĩ của chúng ta.
Đối vời chúng ta, hình như các hạt lượng tử liên hệ với nhau bằng
một liên thông bí ẩn, bởi vì chúng vượt qua hàng rào không gian và thời
gian. Hai Photon tương tác với nhau không phải theo cách những hạt có
thể hình đung trong một không gian Newton, tức như những tiểu thể. Đối
với nhà vật lý học lượng tử, những từ như "hạt", "quỹ đạo"... đều là
nghi đề. Về chủ nghĩa bất định, ở đây không nên hiểu đó là một lý thuyết
về sự mù mờ, là một chủ nghĩa bất khả tri, mà chính là để nói rằng hạt
lượng tử biểu diễn trong không gian và thời gian (như trong vật lý học
Newton), do vậy, hiển nhiên là không thể hình dung nó bằng trí tuệ được,
tức là vượt qua khuôn khổ của một lập luận logic của vật lý học cổ điển
mà loài người đã quen dùng. Cho nên, dường như muốn nắm được nó, nó lại
trượt khỏi tay ta. Và đường như nhà vật lý muốn phát triển lý thuyết
của mình nhưng lại không sao lý giải được chính xác từ vựng của mình.
Richasd Fpynman, trong cuốn Bản tính vật lý, đã băn khoăn viết rằng:
"Tôi rất muốn khai phá thế giới mà không tìm đâu ra được định nghĩa".
Cho đến thế kỷ XIX, vật lý học Newton là một chủ nghĩa quyết định
bất di bất dịch: vạn vật đều gắn bó với nhau, những nguyên nhân như
nhau bao giờ cũng sinh ra kết quả như nhau. Đó là những quy luật "thép"
chi phối sự tiến hoá không sao cưỡng lại được. Nhưng bên cạnh những quy
luật ấy, những cái tất yếu ấy, như một dòng nước xoáy cái ngẫu nhiên cứ
ùa vào tư tưởng khoa học. Những quy luật chồng chéo lên nhau trong tự
nhiên nhưng vẫn chừa nơi vùng vẫy cho cái ngẫu nhiên. Sự tiến hoá của
sinh quyển của chúng ta phải chăng là kết quả của một dự án phức tạp
diễn ra theo một kịch bản đã được thiết kế chặt chẽ từ trước, cho nên ta
chỉ còn nhiệm vụ mô tả và phân tích nó. Hoặc không phải thế, mà đó là
kết quả của một chuỗi sự kiện ngẫu nhiên, giờ đây vật lý học cổ điển
không còn khả năng cho ta một lời giải đáp.
Vì sức sống của cái ngẫu nhiên nằm trong thực tại, cho nên thực
tại bao chứa cái không thể tiên đoán, cái bấp bênh. Và đó chính là nền
tảng của lý thuyết hỗn.độn. Như vậy, bản thân thực tại là hỗn độn, chứ
không do sự bất cập của hệ thống tri thức của chúng ta, hay không do sự
không hoàn hảo của thiết bị kỹ thuật của chúng ta. Trong thế giới hỗn
độn, đầy ngẫu nhiên, nhiều dự đoán gần như không sao thực hiện được bởi
vì một nguyên nhân bé có thể dẫn đến những hiệu quả to , cực to mà con
người dường như không tưởng tượng nổi. Nhà khí tượng học người Mỹ Edward
Lorenz đã đưa ra một hình ảnh nổi tiếng để nói về cáải không thể dự
đoán được của con người. Đó là cái đập cánh của một con bướm ở vùng
Amazone có thể gây nên một trận cuồng phong ở bờ biển Bretagne.
Cùng với lý thuyết về hỗn độn, lý thuyết về phức hợp cũng không
kém phần bí ẩn. Nhà triết học người Pháp Edgar Morin cho rằng "Tín điều
của một thứ chủ nghĩa quyết định đã sụp đổ bởi vì vũ trụ không bị chi
phối bởi chủ nghĩa quyền tuyệt đối của trật tự mà còn bởi mối quan hệ
dialogique giữa trật tự, rối loạn và tổ chức". Phức hợp như vậy, một
mặt, là sự liên kết, và mặt khác, là sự chấp nhận thách thức của sự
không chắc chắn. Nguyên lý dialogique đã nối hai nguyên lý hay hai khái
niệm đối kháng nhau, nhưng không tách rời nhau và đều cần thiết để hiểu
rõ thực tại. Niels Bohr cho rằng hạt vật lý vừa là hạt, vừa là sóng.
Pascal viết: "Đối nghịch với sự thục không phải là sai lệch mà là một sự
thực đối nghịch”. Bohr nói rõ hơn: “Sự ngược lại của sự thực thông
thường là một sai lệch vô lý, nhưng sự trái ngược của một sự thực sâu
sắc thì bao giờ cũng là một sự thật sâu sắc .
Rõ ràng, khoa học hiện đại đã tạo dựng một quang cảnh mới và đã
đóng lại thời kỳ tôn thờ cái châm ngôn khoa học “càng đơn giản thì càng
đẹp, càng đúng", đã mở màn cho một châm ngôn khoa học mới "càng phức
hợp, càng hỗn độn thì càng hiện thức". Càng hiện thực bởi vì cái bị quy
định theo tinh thần nhân quả máy móc đã nhường bước cho cái khả thể, cái
tất yếu không còn một mình thống trị mà buộc phải chấp nhận có cả cái
ngẫu nhiên. Khoa học hiện đại đã đặt đúng vấn đề: khoa học cổ điển đã sa
vào một cuộc khủng hoảng nổi trội lên ở sự phi lý của lý trí thực
nghiệm và từ đó xoá bỏ sự hiện diện của con người với tư cách là chủ thể
quan sát trong quá trình nhận thức thực tại vật lý. Dường như khoa học
hiện đại đang đứng tại chỗ dò những ngõ cụt và những nghịch lý cản
đường.
Nhà triết học người Đức Jaspers đã viết rằng: Cuộc khám phá vũ
trụ cho ta thấy khoa học thực nghiệm chưa hoàn thành được công việc.
Triết học phải tiếp tục công việc mà khoa học bỏ dở. Whitehead, nhà
triết học Anh, nói rõ chỗ bỏ dở đó là khoa học nói chung không đi tới
cùng những vấn đề mà nó nêu lên. Bởi vì, đến lúc mà những thử, sai kinh
nghiệm không thực hiện được thì những vấn đề đó sẽ như rơi vào đám mây
mù. Nhưng, theo ông, dũng cảm và có thể gọi là táo bạo nhất, bởi vì, bao
giờ trong những điều kiện ít thuận lợi nhất, triết học học cũng tự mình
đứng ra để trả lời những vấn đề lớn nhất của thời đại. Sự phát triển
của khoa học hienẹ đại đang chứng minh điều khẳng định trên: nhà khoa
học và nhà triết học đã, đang và sẽ đồng hàng với nhau trong sự tiến
bước.
Người ta nghĩ rằng nguyên lý bất định chỉ có thể áp dụng vào cái
vô cùng nhỏ ở quy mô lượng tử, còn ở quy mô lớn thì có những quy luật
tương ứng vững chắc như bê tông ngự trị. Nhưng, rõ ràng là trong những
điều kiện nhất định, nguyên lý về hôn độn vẫn tồn tại ngay ở quỹ đạo của
hành tinh. Chẳng hạn, một trong những vệ tinh của sao Mộc đi theo một
quỹ đạo kỳ quặc, đến nỗi không sao đoán được trước hướng đi của nó trong
ba ngày tới. Không phải vì các dụng cụ của chúng ta không thích hợp,
không thể quan sát, nghiên cứu được nó, mà bản thân nó là một bất khả
thể. Từ đó, người ta đi tới kết luận rằng đứng trước vũ trụ hỗn độn này,
tuy ta không rời mắt khỏi những biển chỉ dẫn của tri thức khoa học,
nhưng để định hướng trong cuộc sống ta cần đến những ngon đèn khác nữa.
Thiên văn học hiện đại không thể không gợi nên những băn khoăn về
ý nghĩa tột cùng của vũ trụ. Đây không còn là vấn đề của khoa học mà là
của triết học. Thiên văn học, môn khoa học hình như đi tới gần cội
nguồn của những điều bí ẩn của tồn tại, đi tới những miền mà vật lý học
hầu như hoà lẫn vào siêu hình học.
Ở phương Tây, cho đến nay người vẫn trung thành với định nghĩa
của nhà khoa học, nhà triết học lớn Descartes về siêu hình học. Trong
nhưng nguyên lý của triết học Descartes viết: "Toàn thể triết học như
một cái cây mà rễ là siêu hình học, thân là hình nhi hạ học". Trước hết,
đó là những sự vật như bản thể nói chung, nhất là Thượng đế, là những
bản thể tinh thần được làm ra từ hình ảnh của Người (Bossuet), đó là
toàn thể những tri thức do năng lực nhận thức a priori đưa lại (Kant),
đó là tri thức trực giác của cái tuyệt đối và một cách ưu tiên của cái
tinh thần (Bergson). Còn có thể kể tiếp nhiều ý tưởng tương tự. Tất cả
các chân lý của siêu.hình họe, nói như Husserl, đều là cái bất biến, nói
như J.P. Sartre, là cái vô bằng, nó là nguyên nhân của chính nó.
Einstein đã nói một câu nổi tiếng về sự bất cập của chủ nghĩa duy
lý: Điều khó hiểu nhất của thế giới là có thể hiểu được thế giới, có
nghĩa là mặt phi lý nhất của thế giới là ở tính duy lý của nó. Cho nên,
để thực hiện khoa học trong quan hệ con người - tự nhiên, không chỉ có
sự tương hợp giữa tư duy, tức lý trí và tự nhiên, mà còn cần một nhân tố
thứ ba - Einstein gọi đó là trực giác - với chức năng là hình thức nhận
thức tức thời của con người trong sự hình thành những phát minh khoa
học lớn.
Người ta cho rằng chủ nghĩa quy giản ca tụng một thứ chủ nghĩa
nhị nguyên tầm thường, sai lầm và tĩnh tại đã không biết, đã quên lãng
nhân tố thứ ba này của sự nhận thức. Trực giác mà Einstein nói ở đây
chính là sự tưởng tượng của con người vượt ra ngoài vòng cương tỏa của
lý trí. Vậy, tính ưu tiên dành cho năng lực nào của nhận thức? Einstein
khẳng định: "tưởng tượng quan trọng hơn tri thức". Nhà bác học về sinh
học phân tử Fracois Jacob cho rằng trong công việc của nhà khoa học cũng
như trong công việc của nhà nghệ sĩ, yếu tố tưởng tượng ít nhất lúc bắt
đầu, rất giống nhau. Ông nói: "Co ngựa phi, con chim bay, con bọ chét
nhảy. Còn chúng ta thì hoạt động với sức tưởng tượng của mình".
I.Prigorine (giải thưởng Nobel về hoá học) cũng đề xướng chủ đề về “sự
liên minh” giữa con người và vũ trụ. J.Monod (giải thưởng Nobel về y
học) cũng góp phần vào vấn đề lớn chung đó. Xem xét lịch sử khoa học thì
đặc trưng về tư duy nói trên ở nhà khoa học cũng không hoàn toàn là bất
ngờ. Từ thời cổ đại, Aristote chả đã nói rằng “khoa học bắt đầu từ sự
ngạc nhiên” hay sao?
"Ngọn đèn" soi đường cho khoa học mà các nhà khoa học lớn truyền
tay nhau đã được Tuyên bố Venise thắp sáng lên: “Sự gặp gỡ bất ngờ và bổ
ích giữa khoa học với các truyền thống khác nhau trên thế giới cho phép
ta nghĩ đến sự xuất hiện một cách nhìn về loài người, thậm chí một chủ
nghĩa duy lý mới có thể dẫn đến một triển vọng siêu hình học mới". Theo
Tuyên bố Venise, trong hoạt động khoa học trước đây, người ta đi theo
một chủ nghĩa nhị nguyên đối lập khoa học và siêu hình học, chủ nghĩa
duy lý và chủ nghĩa phi duy lý, vật chất và tinh thần... Ngày nay, chủ
nghĩa nhị nguyên đó đã bị vượt qua, cho nên một chủ nghĩa duy lý mới,
tính duy lý bội của khoa học, một siêu hình học mới đã xuất hiện. Khoa
học ngày nay không phải là "tháp ngà" dành riêng cho chủ nghĩa duy lý:
mọi tinh lực của con người đều cần có mặt ở đấy để góp một tiếng nói
chung, để tranh luận về thế giới, để tìm những phương thế can thiệp vào
thế giới ấy.
Chủ nghĩa thực chứng chỉ sùng bái khoa học. Vì vậy, chủ nghĩa duy
khoa học của nó đối lập với tất cả những gì có trước nó, khác nó mà nó
gọi là truyền thống. Truyền thống là toàn bộ các học thuyết, các tập tục
tôn giáo, tâm lý, đạo đức, là toàn bộ thông tin ít nhiều mang tính
truyền thuyết liên quan tới quá khứ. Tóm lại, đó là toàn bộ những hiểu
biết trong sự tiến hoá tinh thần của con người về vị trí, về mối quan hệ
của con người trong các thế giới khác nhau. Toàn thể những hiểu biết
ấy, mặc dù có những hình thức đa dạng trong giao lưu, và có những biến
dạng do thời gian và lịch sử gây nên, nhưng nhìn chung là bền vững, bất
biến và vĩnh cửu. Cho nên chúng mang tính siêu hình rõ ràng.
Khoa học trước đây đối lập với truyền thống ít nhất ở mấy mặt sau đây:
Khoa học dựa trên sự nhận thức thực tại qua trung gian lý tính,
trí tuệ, kết cấu logic và toán học. Trái lại, truyền thống suy ngẫm,
phát hiện, nhận biết trực tiếp về thực tại bằng thể xác, bằng bản năng,
bằng cảm giác bằng niềm tin. Nó coi tư duy thân xác tế vi, cao hơn tư
duy logic.
Khoa học giả định rằng một tiền đề nào đó về sự tồn tại của một
thực tại khách quan phải được chứng minh trong một không gian, thời gian
xác định. Trái lại, truyền thống luôn khẳng định rằng thực tại không
gắn với không thời gian. Vấn đề là chỉ cốt sao tìm được bản thể đích
thực của đối tượng bằng việc hoà nó vào một thực tại duy nhất, bao hàm
tất cả.
Khoa học thực hiện thí nghiệm. Thí nghiệm đó được truyền đạt và
được lặp lại, được xác định một cách khách quan và ở mức tối đa. Thí
nghiệm là quan toà tối cao của khoa học. Trái lại, trong rất nhiều
trưởng hợp, truyền thống không thể truyền đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên, nó
là “vô ngôn". Thí nghiệm của truyền thống là duy nhất, là triệt để vượt
qua những phạm trù logic thông thường.
Khoa học quan tâm chủ yếu đến hiệu quả ở mức cao nhất, trên
phương diện tính vật chất trực tiếp, nhằm dẫn tới những phát minh. Trái
lại, truyền thống có quyền không tính tới hiệu quả đối với tính vật chất
không gian - thời gian, tính vật chất trực tiếp của quan sát.
Tóm lại, khoa học hiện đại vẫn khác với truyền thống về bản chất,
cả về phương điện huy động và về mục đích. Chúng như hai cực của một
mâu thuẫn, hai cái nan hoa của một bánh xe. Tuy khác nhau, nhưng chúng
luôn luôn hướng về một tâm: đó là con người và sự tiến hóa của con
người. Đây là nguyên lý về sự cần thiết đối với truyền thống của khoa
học hiện đại.
Thế giới ngày nay hiện ra như một tấm thảm rộng mênh mông làm
bằng nhiều mảnh bị tung toé ra, không sao ghép lại một cách khoa học
được,- điều không giống như người ta nghĩ trước đây. Đầu thế kỷ chúng
ta, khoa học đi chậm lại vì đường đi trước mắt không còn tỏ tường. Triết
học đã làm cho con đường đó sáng lên. Khoa học đã nhìn thấy gốc của
mình ở siêu hình học và từ đó nó vươn vai đứng lên mạnh mẽ như ngày hôm
nay. Và bây giờ, đến lượt nó, nó lại chứng minh cho triết học theo
nguyên lý của lý thuyết phức hợp rằng tư duy lý trí và tư duy không lý
trí, hoạt động của tư duy khoa học và của tư duy siêu hình học vừa có sự
phân biệt, vừa có sự liên kết không tách rời.
Để làm rõ ý tưởng này, chúng tôi xin đề cập tới phát minh khoa
học của Roger Sperry về chức năng cao cấp của não - phát minh đã đưa lại
cho ông giải thưởng Nobel về sinh lý và y học. Trước khi có phát minh
này, nhà thần kinh học người Pháp Pierre Paul Broca đã chứng minh rằng
vùng tiếng nói nằm ở bán cầu trái của não. Còn nhà sinh lý học người Nga
Paplov cho rằng ở nhà nghệ sĩ thì trội ở bán cầu phải - bán cầu mang
tính tổng thể, còn ở nhà tư tưởng thì trội ở bán cẩu trái - bán cầu có
tính phân tích. Roger Sperry đã đề xướng một lý thuyết chặt chẽ về chức
năng riêng của từng bán cầu. Hoạt động của bán cầu trái mang tính phân
tích, trình tự duy lý. Hoạt động của bán cầu phải mạng tính tổng hợp,
tổng thể , trực giác. Ông khẳng định rằng não chỉ đạt tới mức hoạt động
cao nhất khi có sự hợp tác các chức năng giữa hai bán cầu.
Như vậy, trong sinh lý học chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy
lý, khoa học và siêu hình học không còn chỉ là những tư biện, những điều
bày đặt của nhà triết học, mà đã có những chứng cứ mạnh mẽ. Vấn đề lớn
nhất đặt ra cho triết học là trong não người không phải chức năng này
tiêu diệt chức năng kia, mà là cùng hợp tác để tạo nên con người.
Gắn khoa học với siêu hình học, khoa học hiện đại đã đặt con
người vào trung tâm của quá trình nhận thức thực tại. Con người không
phải là khách thể mà là chủ thể quan sát thực tại đó. Phải chăng đây là
một dấu hiệu khẳng định sự đúng đắn của dự báo nổi tiếng của Mác: "Khoa
học tự nhiên sẽ bao gồm khoa học về con người, cũng như khoa học về con
người sẽ bao gồm khoa học tự nhiên, và đó sẽ là một khoa học".
Sự phân ngành khoa học không bao giờ chấm dứt mà ngày càng mạnh
mẽ hơn, cho nên không bao giờ khoa học trở thành một. Khoa học tự nhiên
hiện đại đi theo chiều “một khoa học" là ở chỗ, nó đón nhận, thừa nhận
địa vị con người, nói như Jacques Monod, phải có "đạo đức học của nhận
thức", nhận thức khoa học phải mang giá trị do con người đưa lại, và như
vậy nó bỏ lại phía sau chủ nghĩa duy khoa học để trở thành văn hoá khoa
học. Khoa học thiếu sự hiện điện của con người, khoa học không có sự
đối thoại với triết học là khoa học chết, khoa học chưa phải là văn hoá.
Từ giữa thế kỷ, triết học về khoa học càng ngày càng mang tính
chống thực chứng, đáng lưu ý nhất là ở Mỹ, nước sớm đi vào xã hội hậu
công nghiệp. Chủ nghĩa thực chứng mới nhất là trường phái Vienna -
trường phái theo đuổi "chương trình thủ tiêu triết học", tuyên bố "triết
học đã chết", chỉ thừa nhận mệnh đề khoa học, còn mệnh đề siêu hình học
là không có nghĩa. Các nhà triết học về khoa học hậu thực chứng đòi
phục hồi lại siêu hình học, đòi xây dựng lại bản thể học mới. K.Popper
bác bỏ chủ nghĩa duy kinh nghiệm thực chứng chủ nghĩa, coi phương pháp
quy nạp trong khoa học là đáng nghi ngờ. Popper cùng chia sẻ với
G.Bachelard, đề xướng ý tưởng cho rằng sự tưởng tượng là bí quyết của sự
thành công khoa học. Đi mạnh mẽ nhất theo bảng chỉ đường của siêu hình
học, của triết học là triết học phân tích thực dụng và trường phái lịch
sử ở Mỹ - trường phái gây tiếng vang lớn trong giới khoa học thế giới
hiện đại. Điểm nổi bật của các trường phái triết học khoa học ở Mỹ là từ
bỏ cái thế đứng ngoài để mô tả "sự tăng trưởng của tri thức". Sự tăng
trưởng của tri thức đó chỉ có thể có được, nếu nó không rời bỏ gốc rễ
của nó là siêu hình học, nếu những nhân tố giá trị không bao giờ vắng
mặt trong hoạt động khoa học.
Để giải được “vấn đề” đầy ngạc nhiên của khoa học, K.Poppêr đã
huy động chú giải học để khơi dậy sự tưởng tượng, nhằm dẫn tới lý thuyết
khoa học. Cũng từ chú giải học Richard Rorty coi "đàm thoại"
(conversation) là hoạt động phổ biến của con người để tìm chân lý: chân
lý không hề có săn bới vì con người không có mục tiêu nào khác ngoài
chính bản thân mình.
Nếu Popper cho chỉ có siêu hình học mới đóng được vai trò phác
thảo đầu tiên của lý thuyết khoa học, thì Lakatos coi siêu hình học là
"hạt nhân rắn", tức những nguyên lý bất biến không thể bị bác bỏ trong
khoa học. T.Kuhn đã đưa siêu hình học vào hệ chuẩn và đã lý giải mối
quan hệ "hệ chuẩn - xã hội khoa học" (paradiglne socxiété scientifique)
theo chủ nghĩa phi duy lý và chủ nghĩa chống trí tuệ. ông cho rằng niềm
tin của "xã hội khoa học" là nhân tố quyết định sự chuyến hóa từ hệ
chuẩn này sang hệ chuẩn kia. Peyerabend là người đẩy chủ nghĩa phi duy
lý đến đỉnh cao. Ông cho rằng trong khoa học không thể chỉ có cái lý
tính mà còn có cái ',lỏng lẻo", "cái hỗn độn" của cái phi lý tính theo
nguyên tắc "thế nào cũng được", tức chủ nghĩa đa nguyên trong khoa học.
Trong trường phái lịch sử Mỹ, Wartofski là người tích cực nhất
trong việc phục hồi siêu hình học để phát triển khoa học. Ông đặc biệt
kế thừa phạm trù lương tri trong siêu hình học của triết học cổ điển đó
là năng lực phân biệt cái đúng, cái sai, (thật, giả) - những cái tồn tại
một cách tự nhiên, ngang nhau ở mọi con người. Từ đó, ông làm rõ nhiều
chức năng của siêu hình học trong khoa học: gợi mở cho khoa học, xây
dựng các mô hình cơ bản của nhận thức khoa học, phê phán các luận cứ cơ
bán của khoa học... Nước Mỹ hiện nay có một nền khoa học phát triển nhất
thế giới. Điều đó không thể không biết tới sự đóng góp của các nhà
triết học về khoa học - những người cũng đi đầu trong việc khẳng định
nhân tố con người trong nhận thức khoa học.
Khoa học hiện đại, nói như Jaspers, nhờ “sự làm việc" của triết
học mà gốc là siêu hình học, đã vượt lên những bế tắc để phát triển mạnh
mẽ như ngày nay. Không chỉ khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội cũng
đã nhờ cái lực đẩy đó mà trở thành khoa học nhân văn, khoa học con
người. Khoa học nhân văn chỉ có thể xuất hiện cùng lúc khi triết học về
con người đã phát triển tới đỉnh cao. Đó là một cuộc cách mạng trong nền
văn hoá của loài người khi bước vào thế giới hiện đại. Giờ đây, khi
khoa học hiện đại được triết học khơi nguồn thì chủ nghĩa trung tâm xã
hội phải lùi bước và "chủ nghĩa trung tâm cái tôi" phải được thay bằng
quan niệm coi con người là trung tâm thực tại, con người là chủ thể để
nhận thức thực tại. Chủ nghĩa kỹ trị phải được thay thế bằng chủ nghĩa
nhân trị (anthro pocratime). Không chỉ có "văn học là nhân học", mà tất
cả các khoa học xã hội, kể cả các bộ môn lấy xã hội làm trung tâm như xã
hội học, kinh tế... cũng đều trở thành khoa học nhân văn, một khi chúng
gắn hữu cơ với triết học con người.
"Một khoa học" không phải ở chỗ "văn hoá khoa học" và "văn hoá
nhân văn" "thâm nhập vào nhau”. Sự phân ngành khoa học là vô tận. Khoa
học tự nhiên và khoa học nhân văn trở thành một khoa học vì chúng đã làm
đảo lộn "trường" của những cái vì sao do triết học đưa lại. Các khoa
học - khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn - đối thoại với nhau trong
những câu hỏi rối như tơ vò mà E.Morin gọi là tính phức hợp. ông miêu tả
bằng cách thêm một ý tưởng vào định nghĩa của Des- cartes: Triết học
như là một cái cây, rễ là siêu hình học, thân là hình nhi hạ học và
những cành mọc ra từ đó là các khoa học khác.
nguồn: http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/Khoa_h%E1%BB%8Dc_hi%E1%BB%87n_%C4%91%E1%BA%A1i_v%C3%A0_tri%E1%BA%BFt_h%E1%BB%8Dc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét